Tham luận của THĐCVN

Tham luận của THĐCVN

Tổng hội Địa chất Việt Nam (sau đây viết tắt là Tổng hội) là một tổ chức xã hội nghề nghiệp tự nguyện của tổ chức và cá nhân người địa chất, mục đích tập hợp đoàn kết rộng rãi các tổ chức Hội chuyên ngành về địa chất, các Hội Địa chất tỉnh, thành phố, các Hội viên tập thể và các Hội viên là các nhà địa chất trong toàn quốc cùng nhau  phấn đấu phát huy tài năng, trí tuệ, nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp cống hiến cho sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hoá đất nước, góp phần tích cực trong xây dựng và phát triển ngành địa chất Việt Nam,góp phần xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng văn minh.  Với mục đích đó Tổng hội Địa chất Việt Nam đã và đang tập hợp đông đảo các nhà địa chất từ các cơ sở sản xuất, các đơn vị khảo sát, điều tra địa chất tìm kiếm, thăm dò khoáng sản rắn, nước dưới đất nước khoáng, dầu khí từ các cơ quan nghiên cứu, các Viện, các trường Đại học, các cơ quan quản lý trong cả nước.

Tổng hội có vai trò tích cực và có đóng góp quan trọng đối với xây dựng và phát triển ngành ĐCVN ngày càng đáp ứng tốt hơn yêu cầu phát triển bèn vững đất nước, bảo vệ tổ quốc.

- Thuận lợi và khó khăn của Tổng hội ĐCVN trong việc tham gia phát triển ngành;

- Những kết quả nổi bật của THĐC trong việc phát triển ngành ĐCVN.

I.Tổng hội Địa chất Việt Nam có hệ thống tổ chức và hội viên có tầm nhìn và năng lực trong việc phát triển ngành địa chất Việt Nam

Tổng hội Địa chất Việt Nam được thành lập theo Quyết định số:137BT ngày 24 tháng 8 năm 1983 Quyết định của Hội đồng Bộ trưởng về việc Hội Khoa học và kỹ thuật ngành địa chất Việt Nam chính thức thành lập và hoạt động; Quyết định số 80/2003/QĐ/QĐ-BNV ngày 08 tháng 12 năm 2003 Quyết định của Bộ trường Bộ Nội vụ về việc cho phép chuyển Hội Khoa học và kỹ thuật ngành Địa chất Việt Nam thành Tổng Hội Địa chất Việt Nam; Quyết định số 673/QĐ-BNV ngày 27 tháng 4 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ về việc phê duyệt bản Điều lệ (sửa đổi) của Tổng hội Địa chất Việt Nam.Tổng hội Địa chất Việt Nam là thành viên của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA).

Tổng hội Địa chất Việt Nam có gần 20 000 hội viên, trong đó có 50 GS, 150 PGS, hàng trăm TS, hàng  ngàn Thạc sĩ, KS địa chất và cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề từ khắp mọi miền đất nước. Tổng hội gồm các tiểu ban chuyên môn để chỉ đạo, tạo điều kiện về mặt môi trường, về thể chế chính sách phát triển ngành khoa học địa chất Việt Namnhư :Ban Kiểm tra;Ban Thi đua khen thưởng;Ban Khoa học và Công nghệ;Ban Quản lý các Tổ chức Khoa học Công nghê; Ban Tuyên truyền và Phổ biến kiến thức;Ban phát triển hội;Ban Hợp tác Quốc tế;Văn phòng Tổng hội.Tổng hội  có15 Hội chuyên ngành và 10  Hội trực thuộcđóng vai trò tập hợp lực lượng phát triển và ứng dụng khoa địa chất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường, phòng tránh thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH): 1. Hội Cổ sinh địa tầng Việt Nam; 2.Hội Kiến tạo Việt Nam; 3.Hội Đệ tứ - Địa mạo Việt Nam; 4.Hội Khoáng thạch học Việt nam; 5.Hội Trầm tích Việt Nam; 6.Hội Địa hóa Việt Nam; 7.Hội Địa chất biển Việt Nam; 8.Hội Địa chất Kinh tế Việt Nam; 9.Hội Đá quý Việt Nam; 10.Hội Địa chất Than - Khoáng sản Việt Nam; 11.Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam; 12.Hội Địa chất Công trình và Môi trường Việt Nam; 13.Hội Tuyển khoáng Việt Nam; 14.Hội Công nghệ Khoan khai thác Việt nam; 15.Hiệp hội Doanh nghiệp Địa chất và khoáng sản Việt Nam.Các Hội trực thuộc gồm có: 1. Hội Khoáng sản 2.Hội  Công nghệ Đá màu thiên nhiên; 3. Hội Đá ốp lát và trang trí; 4. Hội Địa chất Tây Bắc ; 5. Hội Địa chất Đông Bắc; 6.Hội Địa chất Than Hà Nội; 7. Hội Địa chất  Khu vực Thái Bình ; 8. Hội Địa chất Như Quỳnh; 9.Hội Địa chất Dầu khí Việt Nam; 10. Câu lạc bộ  Búa vàng Địa chất.

Tổng hội Địa chất Việt Nam còn phát triển lực lượng và triển khai ứng dụng khoa học –công nghệ địa chất ở các địa phương như các Hội Địa chất Địa phương do Chủ tịch UBND Tỉnh ký quyết định thành lập:  1.Hội Địa chất và Khoáng sản Yên Bái; 2.Hội Địa chất tỉnh Hải Dương; 3. Hội Địa chất sắt 8 Thạch Khê – Hà  Tĩnh; 4. Hội Địa chất Quảng Bình ;5. Hội Địa chất thành phố Hồ Chí Minh.

 Tổng hội có Tổng Hội Địa chất Việt Nam có các tổ chức nghiên cứu  Khoa học - Công nghệ (có đăng ký hoạt động tại Bộ Khoa học và Công nghệ để triển khai nghiên cứu khoa học, phát triển và chuyển giao tri thức,  công nghệ địa chất như:  1. Viện Địa chất và Môi trường; 2.Viện Đá quý vàng - Trang sức Việt; 3.Viện Đá quý và Trang sức ;4.Viện Khoa học Công nghệ Địa chất và Khoáng sản ; 5 Viện Nghiên cứu Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí ; 6. Liên hiệp khảo sát địa chất xử lý nền móng công trình ;7. Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất - Địa vật lý ;8. Liên hiệp Khoa học công nghệ tài nguyên khoáng sản môi trường và năng lượng ;9. Liên hiệp Khoa học Địa chất và Du lịch ;10. Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất nước khoáng ;11. Liên hiệp Địa kỹ thuật công trình miền Nam ;12. Liên hiệp Khoa học sản xuất Miền Trung ;13. Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất Nam Bộ 14. Liên hiệp Khoa học địa chất nền móng, vật liệu xây dựng ; 15. Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất Môi trường miền Nam ; 16. Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất  Xây dựng và Môi trường phía Nam ; 17. Liên hiệp Khoa học sản xuất Địa chất và Công nghệ khoáng ; 18. Liên hiệp Địa chất công trình, xây dựng và Môi trường ; 19 Liên hiệp Địa kỹ thuật nền móng công trình ; 20. Liên hiệp Khảo sát Địa chất công trình- nền móng và Môi trường ; 21. Liên hiệp Khoa học địa chất kiểm định nền móng xây dựng Sài Gòn ; 22. Liên hiệp Khoa học địa chất Tư vấn kiểm định xây dựng ; 23. Liên hiệp KHKT Địa chất nền móng và kiểm định xây dựng ; 24. Trung tâm Công nghệ khoan khai thác ; 25. Trung tâm Kỹ thuật địa chất và xử lý nền móng ; 26.Trung tâm Nghiên cứu Địa chất đá quý ; 27. Trung tâm tư vấn ứng dụng khoa học địa chất và công trình giao thông ; 28. Trung tâm Tư vấn kiểm định địa chất nền móng công trình ; 29. Trung tâm Tư vấn và chuyển giao công nghệ Vật lý - Địa chất ; 30. Trung tâm Khoa học sản xuất phát triển Trung ; 31.Trung tâm KHĐịa chất Công trình ; 32. Trung tâm Phân tích thí nghiệm và dịch vụ Địa chất khoáng sản môi trường miền Trung.  

II. Tổng hội địa chất Việt Nam đã và đang tổ chức các hoạt động góp phần tích cực phát triển ngành địa chất Việt Nam

 2.1. Tổng hội  đã và đang tổ chức triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực địa chất phục vụ phát triển đất nước và phát triển ngành địa chất Việt nam

Tổng hội đã động viên, khuyến khích, tạo các cơ hội để các hội và các hội viên của Tổng hội chủ động và sáng  tạo đề  xuất các đề tài, dự án, đề án, tham gia đấu thầu khoa học để có được các đề tài khoa học, côg gnghệ các cấp – nhà nước, bộ, ngành, Liên hiệp Hội Khoa học- Kỹ thuật Việt Nam, các địa phương. Tổng hội đã tìm hiểu cung cáp các thông tin cần thiết liên quan và hỗ trợcác hội, các thành viên của Tổng hội (Hội địa hoá và Viện Công nghệ Địa chất và khoáng sản thuộc ...) xây dụng và đấu thầu thành công các đề tài cấp nhà nước. Hội Địa chất Thủy Văn VN đã thực hiện một số đề tài KHCN cấp nhà nước như: “Nghiên cứu đề xuất các tiêu chí và phân vùng khai thác bền vững, bảo vệ tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng Nam Bộ”; “Nghiên cứu, đánh giá vai trò của nước mưa và nước sông Hồng trong sự hình thành và bảo vệ tài nguyên nước dưới đất khu vực nội thành Hà Nội”. Thực hiện đề án” Nghiên cứu phân vùng phát triển Karst mỏ đá vôi Đồng lâm huyện Phong Điền Thừa Thiên Huê”, “làm rõ hiện trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp nhằm giảm thiều tác động đến sụt lún đất ở mỏ đá vôi Phong Xuân huyện Phong Điền tỉnh Thừa Thiên Huế để an dân;

Hội địa hoá Việt Nam chủ trì đấu thầu thành công và đang triển khai đề tài khoa học cấp nhà nước“Nghiên cứu, áp dụng công nghệ tích hợp địa môi trường - địa sinh thái nhằm ngăn ngừa, xử lý ô nhiễm môi trường nước tại một số điểm ở các lưu vực sông vùng Tây Bắc”. Viện Công nghệ Địa chất và khoáng sản thuộc Tổng hội Địa chất Việt Nam chủ trì thực hiện đề tài khoa học cấp nhà nước“Nghiên cứu đánh giá tiềm năng và triển vọng quặng Cu, Au, Ni khu vực Tây Bắc”.

Các nhà khoa học, các ủy viên BCH Tổng hội địa chất đã tham gia xây dựng các chương trình khoa học công nghệ 2011-2015 (như chương trình KHCN phục vụ páht triển bền vững Tây Bắc ), 2016-2020 (như chương trình KHCN chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường 2016-2020); Chủ trì phía Việt Nam các đề tài hợp tác quốc tế về khoa học công nghệ như Tích hơp 3E (Energy-năng lượng, Environment- môi trường và Ecosystem- hệ sinh thái) để xây dựng xã hội cacbon thấp; Xây dụng quốc gia chống chịu với tai biến. Hội viên của Tổng hội đã và đang chủ trì hàng chục đề tài khoa học, công nghệ các cấp (cấp nhà nước, bộ nghàh, cấp tỉnh, thành phố)...

 Nhóm chuyên gia của Tổng hội đã thực hiện tốt đề án cho Tập đoàn Than- khoáng sản VN“ “ Phân chia nhóm mỏ, xác định mạng lưới thăm dò hợp lý dưới mức -300m tại các mỏ/khoáng sàng than vùng Quảng Ninh ”.

Hội Địa hóa Việt Nam đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học của các Viện nghiên cứu, các trường đại học và các cơ sở khoa học khác với cương vị chủ nghiệm các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp Bộ và cấp ngành trong nhiều lĩnh vực khác nhau.

Các nhà Cổ sinh - Địa tầng của Hội đã tham gia nhiều chuyến thực địa thực hiện các đề tài trong nước cũng như liên kết với nước ngoài, thu được nhiều kết quả quan trọng. Đặc biệt các phát hiện cổ sinh (Cúc đá, Hai mảnh vỏ, Tay cuộn v...) tại Ninh Bình đã xác lập các Di sản cổ sinh quan trọng góp phần đưa quần thể danh thắng Tràng An – Ninh Bình thành Di sản thiên nhiên thế giới; nhà địa chất Việt Nam đầu tiên vào thám hiểm hang Sơn Đoòng và đã viết bài thông tin về hang động đặc biệt này bằng hai thứ tiếng Việt và tiếng Anh “Sơn Đoòng – hang karst lớn nhất thế, một số đặc điểm địa chất và các vấn đề liên quan”.

Hội Khoáng-Thạch học tạo mọi điều kiện, động viên, tập hợp, thu hút  các Hội viên hăng hái tham gia các đề tài, đề án  nghiện cứu KHCN. Phân hội Viện Địa chất Viện hàn lâm KH&CN Việt Nam rất tích cực trong tập hợp lực lượng tham gia đề tài và đề án và đã thu hút được các nhà khoa học, có nhiều hội viên lớn tuổi của Tổng Cục Địa Chất & Khoáng sản VN; Trường Đại học KHTN; ĐH Mỏ Địa Chất và các Sở KHCN Địa phương.

2.2. Đề xuất các hướng nghiên cứu và đào tạo mới, chuyển giao tri thức  thuộc lĩnh vực địa chất

 Bên cạnh việc củng cố, phát triển các ngành địa chất truyền thống như đã nêu ở trên, Tổng hội, các hội thành viên và các hội viên cón quan tâm nghiên cứu đè xuất phát triển các chuyên ngành mới thuộc lĩnh vực địa chất và các lĩnh vực liên quan để đáp ứng cao hơn, nhanh hơn yêu cầu phát triển đất nước, bảo vệ tổ quốc. Điều đó góp phần xây dựng và phát triển các ngành, chuyên ngành mới như : địa chất và địa hoá môi trường, địa chất sinh thái, địa chất di sản, địa chất y học, địa chất pháp lý, địa chất quân sự, địa chất đô thị, địa chất đới duyên hải, công nghệ địa môi trường- địa sinh thái.... Đông thời phát triển các ứng dụng mới của khoa học, công nghệ địa chất trong xử lý, chế tác đá quý, ứng phó (thích ứng và giảm nhẹ) với biến đổi khí hậu, chủ động ứng phó với thiên tai, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái, phát triển bền vững (phát triển, hoan thiện bộ chỉ số, quy hoạch sử dụng bền vững tài nguyên, ...), quy hoạch không gian biển, quy hoạch sử dụng đất, sử dụng chất đánh dấu phân tử để xác định nguồn trầm tích và chất ô nhiễm, sử dụng đồng vị bền đề nghiên cứu biến đổi cổ khí hậu, chuỗi thức ăn, định lượng vai trò rùng ngập mặn trong hấp rhu CO2, điều tra tội phạm...

Các hội viên của Tổng hội còn tích cực trong việc xây dựng và phát triển các tổ chức nghiên cứu, đào tạo (các bộ môn, các các khoa, các trung tâm các viện nghiên cứu thuộc các trường đại học, các viện nghiên cứu nhà nước...) và các tổ chức nghiên cứu, chuyển giao tri thức thuộc Tổng hội, Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam. Bên cạnh việc phát triển các tổ chức đào tạo, nghiên cứu truyền thống, các hội viên, các hội thành viên của Tổng hội tham gia xây dựng các tổ chức mới như bộ môn địa chất môi trường, phòng thí nghiệm trọng điểm cấp Đại học Quốc gia (ở trường Đại học Khoa học Tự nhiên), bộ môn địa sinh thái và Công nghệ môi trường (trường Đại học Mỏ- Địa chất), Bộ môn Địa môi trường (Đại học Bách khoa Tp. Hồ Chí Minh), Viện Công nghệ Địa chất và khoáng sản, Viện địa chất và môi trường(thuộc Tổng hội), Viện Tài nguyên, Môi trường và Phát triển bền vững, Viện địa môi trường và thích ứng Biến đổi khí hậu (thuộc Liên hiệp Hội KHKT Việt Nam)...

 2.3. Tích cực chuyển giao tri thức, công nghệ địa chất

 Các hội thành viên của Tổng hội đã và đang tích cực nghiên cứu chuyển giao, dịch vụkhoa học, công nghệ địa chất phục vụ phát triển khinh tế xã hội ở các địa phương, các ngành khác nhau thông qua các họp đồng kinh tế, hợp đồng khoa học, hợp đồng dịch vụ. Hội Khoáng sản, năm 2014, đã ký hợp đồng tìm kiếm sơ bộ tài nguyên khoáng sản vàng và các khoáng sản khác tại tỉnh Sê Koong và Attapeu nam Lào với công ty cổ phần khoáng sản Việt Lào, công tác triển khai thực địa đã hoàn thành với chất lượng cao. Hội Địa hóa Việt Namđã thực hiện 03 hợp đồng đánh gía tác động môi trường (ĐTM) cho các dự án: “ Đầu tư xây dựng công trình khai thác khoáng sản vàng khu vực Đăk Blô, xã Đăk Blô, huyện Đăk Glei, tỉnh Kon Tum”; Đầu tư xây dựng công trình khai thác sa khoáng ilmenit- zircon khu vực Mũi Đá 2, Thị trấn Phú Long, huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận; và Đầu tư xây dựng công trình khai thác quặng Titan-Zircon sa khoáng tại khu vực xã An Hải và xã Phước Hải, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.Ngoài ra HộiĐịa hóa Việt Namcòn tham gia đề án “ Đề xuất các giải pháp phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại đến môi trường và dân sinh do hoạt động kiến tạo địa chất, sau khi tích nước tại khu vực đập thủy điện Lai Châu” và đề tài “Tổng hợp, xử lý tài liệu, thành lập bản đồ chuyên hóa địa hóa khoáng sản Urani tỷ lệ 1:200.000; làm rõ tính chuyên hóa địa hóa sinh khoáng Urani khu vực Tây nam Quảng Nam và Kon Tum; khoanh định các diện tích triển vọng Urani trên cơ sở tài liệu địa hóa để điều tra đánh giá ở tỷ lệ 1/25.000 và 1/10.000”.

Hội  Địa chất và khoáng sản tỉnh Yên Bái này đã triển khai hợp đồng thăm dò đánh giá lại trữ lượng để làm thủ tục xin cấp lại mỏ felspat Hán Đà thuộc Công ty Cổ phần Khoáng sản Yên Bái VPG.Hội địa chất tỉnh Hải Dương nghiên cứu tài nguyên nước mặt, các yếu tố về môi trường, các đối tượng khai thác sử dụng tài nguyên nước, xả nước thải vào nguồn nước, các yếu tố về khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu và hoạt động của con người ảnh hưởng đến tài nguyên nước ở tỉnh Hải Dương.

 Các đơn vị khoa học công nghệ và các hội viên của Tổng hội hoạt động trong phạm vi cả ba miền của Tổ quốc đã cố gắng bám sát thực tiễn, đề xuất và tiến hàng trăm công trình nghiên cứu và dịch vụ khoa học trong các lĩnh vực điều tra địa chất, đo đạc bản đồ, thăm dò khoáng sản, đánh giá tác động môi trường, cấp thoát nước, khảo sát nền móng, địa chất môi trương, địa chất tai biến, bảo vệ môi trường, di sản địa chất, phân tích các loại mẫu, … phục vụ cho phát triển kinh tế xã hội của các địa phương và các ngành địa chất, khai thác mỏ, xây dựng, giao thông, quy hoạch đô thị v.v...thông qua các hợp đồng kinh tế, hợp đồng khoa học, công nghệ, dịch vụ.

Các hội viên của Tổng hội đã tích cực nghiên cứu, xây dựng bộ hồ sơ về các giá trị và đặc trưng địa chất, địa mạo làm cơ sở để công nhận di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long, Phong Nha-Kẻ Bàng, di sản văn hoá và thiên nhiên thế giới Tràng An, công viên địa chất toàn cầu Đồng Văn.., công nhận các khu bảo tồn thiên nhiên, các khu dất ngập nước Ramsar ở Cà Mau, ...

 

2.4. Đẩy mạnh phản biện xã hội trên cơ sở khoa học địa chất

 

Các hội viên của Tổng hội đã có nhiều hoạt động phản biện xã hội đối với chiến lược, chính sách, chương trình, dự án phát triển kinh tế- xã hội trên cơ sở khoa học, công nghệ địa chất như đóng góp các  ý kiến về vấn đề liên quan đến địa chất của Thủy điện Sông tranh 2, khai thác và chế biến bô xit Tây Nguyên,công tác Điều tra đánh giá than Đồng bằng Sông Hồng, tham gia đoàn kiểm tra giám sát về xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận, giám sát khai thác bô xit Tây nguyên, ….

Tổng hội luôn có hội viên tham gia các buổi Hội thảo do Bộ Công thương, Trung tâm con người và thiên nhiên, Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật tổ chức.

Nhiều hội viên của Tổng hội đã trực tiếp tham gia (với vai trò là ủy viên, phản biện, chủ tịch) vào nhiều Hội đồng xét duyệt thuyết minh, phản biện, nghiệm thu các đề tài nghiên cứu KHCN cấp nhà nước liên quan đến địa chất khoáng sản, biến đổi khí hậu, khoa học- công nghệ biển, phòng tránh thiên tai, bảo vệ môi trường. Báo cáo chuyên đề: “Đội ngũ chuyên gia, cán bộ KH và CN lĩnh vực địa chất-khoáng sản: Thực trạng và giải pháp phát triển” và đã in trong Kỷ yếu hội thảo quốc gia về đào tạo tạo, phát triển triển đội ngũ chuyên gia, cán bộ KH Bộ KH v à CN trong các lĩnh vực TN và MT của Bộ TN-MT  12/2014.

Các hội viên của Tổng hội đã:

a) Nhận xét phản biện/thẩm định công tác xuất bản một số ấn phẩm như:“Tài nguyên sa khoáng biển Việt Nam” theo yêu cầu của Tổng cục Biển và Hải đảo; “Kiến tạo các bể trầm tích Kainozoi vùng nước sâu thềm lục địa Việt Nam”; “ Địa chất Pliocen-Đệ tứ vùng biển Việt Nam và kế cận”, ”Bách khoa thư Địa chất” của Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội;

b) Nhận xét phản biện các nhiệm vụ chuyên ngành cấp Bộ củaViện Khoa học Địa chất và Khoáng sản về: ”Nghiên cứu, đánh giá triển vọng puzolan làm nguyên vật liệu xây dựng  phục vụ phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên” ; “Nghiên cứu ứng dụng phương pháp Địa tầng phân tập cho các trầm tích Cambri trung-Ordovic hạ ở Đông bắc Việt Nam”; “Xây dựng mạng lưới trắc địa địa động lực trên khu vực các đứt gãy thuộc Miền Bắc Việt Nam phục vụ công tác dự báo tai biến tự nhiên”; ”Nghiên cứu xác định nguyên nhân khan hiếm và ô nhiễm nước dưới đất tại một số khu vực karst Tây Bắc; “ Đề xuất các giải pháp bảo vệ và cung cấp nước phục vụ phát triển kinh tế-xã hội”; “Nghiên cứu lựa chọn các phương pháp thích hợp điều tra, đánh giá tai biến địa chất liên quan đến hệ thống không gian karst ngầm. Áp dụng thử nghiệm tại thị xã Lai Châu”.

Tổng hội đã có văn bản góp ý đối với Dự thảo thông tư quy định việc đánh giá, xác nhận và thẩm định kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa  học và công nghệ không sử dụng ngân sách nhà nước”của Bộ KH và CN.

Nhiều nhà khoa học của Tổng hội ĐCVN đã thực hiện các nhiệm vụ tư vấn- phản biện (TV-PB) với tư cách Chuyên gia độc lập của Tổng hội tại các Hội đồng KH-CN các cấp.

Nhiều hội viên tham gia công tác phản biện xã hội, có báo cáo bằng văn bản với các Cơ quan có thẩm quyền những vấn đề nóng bỏng của đất nước.Như  dự thảo bổ sung Nghị định 15 về khoáng sản; dự thảo Luật và Nghị định về Biển và Hải đảo; Luật về Hội. Tham gia đóng góp với Bộ Tài nguyên và Môi trường về tổ chức, nhiệm vụ của các đơn vị nhà nước hoạt động về địa chất khoáng sản; Nhiều hội viên làm việc ở các đơn vị nghiên cứu khoa học như: Tổng cục Địa chất và khoáng sản, Viện Dầu khí Việt Nam, Công ty khai thác Dầu khí, Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, Viện Địa chất, Trung tâm Tài nguyên Nước Quốc gia,  tham gia hội thảo trong và ngoài nước.

Hội viên của Hội Địa chất và Khoáng sản tỉnh Yên Bái cũng đã được UBND tỉnh mời tham gia 2 Hội đồng thẩm định báo cáo kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng  khoáng sản của tỉnh; tham gia góp ý cho Dự thảo chính sách thu hút, đào tạo cán bộ khoa học, cán bộ quản lý; hỗ trợ đào tạo cán bộ, học sinh, sinh viên người dân tộc thiểu số tỉnh Yên Bái giai đoạn 2014 – 2016.

 2.5. Tích cực góp phần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học địa chất Việt Nam

 Các Hội chuyên ngành Địa chất đã phối hợp với trường Đại học Mỏ - Địa chất, khoa Địa chất - Đại học Khoa học tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, tham gia mở các lớp chuyên đề và hướng dẫn đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ địa chất.Nhiều nhà khoa học thường xuyên tham gia giảng dạy cho sinh viên, học viên cao học và NCS bằng tiếng Việt và tiếng Anh (đối với các chương trình đạt chuẩn quốc tế), tham gia hội đồng chấm luận văn tiến sĩ, thạc sĩ…tại trường ĐH Mỏ - Địa chất, ĐH KHTN-ĐHQG Hà Nội và ĐHQG Thành phố Hồ Chín Minh, Đại học Huế, Viện Địa chất Viện Hàn lâm Khoa học, Công nghệ Việt Nam, viện Địa chất và Khoáng sản..., góp phần đào tạo nhiều tiến sĩ, thạc sĩ, hàng trăm cử nhân, kỹ sư địa chất, quản lý tài nguyên và môi trường...Riêng năm 2014, đã có 3 nghiên cứu sinh do Hội viên Tổng hội hướng dẫn bảo vệ thành công luận án tiến sỹ; năm 2015 đã trực tiếp hướng dẫn 12 nghiên cứu sinh trong đó có 3 nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, hướng dẫn 14 học viên cao học bảo vệ thành công luận văn thạc sĩ. Gần 20 Giáo sư và hơn 50 PGS Địa chất Việt Nam được công nhận thời gian qua, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ kỹ khoa học, thuật địa chất của Việt Nam, đảm bảo cho các công tác nghiên cứu địa chất và đào tạo cán bộ địa chất cho đất nước đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước.

          Các hội viên của Tổng hội đã hỗ trợ các cán bộ trẻ đi học tập, nghiên cứu cơ Nhậ Bản, Nauy, Đài Loan, Thái Lan.... Hội Địa hoá Việt Nam trao các giải thưởng, hỗ trợ tài chính cho các NCS bảo vệ luận án TS đúng hạn, đạt kết quả tốt.

Một số đơn vị Khoa học Công nghệ của Tổng hội Địa chất Việt Nam đã mở các Trung tâm đào tạo liên kết với các trường, tham gia đào tạo cán bộ kỹ thuật ở Hà Nội, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Nam; tổ chức tập huấn “ Tiếp cận Bộ tiêu chuẩn EITI 2013 về Công khai minh bạch trong hoạt động khoáng sản” do Trung tâm Con người và Thiên nhiên phối hợp với Diễn đàn các Nhà báo môi trường Việt Nam.

2.6. Tổ chức các hoạt động phổ biến kiến thức, đưa khoa học địa chất đến với cộng đồng

 Tổng hội luôn quan tâm đến công tác phổ biến kiên thức nhằm nâng cao nhận thức, phát triển nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ địa chất Việt Nam. Các hội viên của Tổng hội đã biên soạn và xuất bản nhiều sách chuyên khảo, sách phổ  biến kiến thức về địa chất, khoáng sản, phát triển bền vững tài nguyên địa chất, địa chất và địa hoá môi trường ...như “ Địa hóa và sức khỏe”, “ Bảo vệ môi trường, phát triển bền vững tài nguyên khoáng sản”, “ Trái đất và lịch sử sự sống”, “Địa chất Pliocen-Đệ tứ vùng biển Việt Nam và kế cận”, “Khoáng sản”,  “ Trái đất và kho báu của nhân loại”, “Tự điển Anh Việt Thạch học, Thạch Luận”,...Các hội viên Tổng hội đã công bố hàng trăm bài báo trên các tạp chí quốc tế, hàng nghìn bài báo đăng rtong các tạp chsi khoa học trong nước và hàng tram báo cáo  trình bày tại các cuộc hội thảo, hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế.

Các hội viên của Tổng hội tích cực tham gia vào dự án “ Thông tin tích hợp địa chất và tài nguyên địa chất Việt Nam ở dạng Bách khoa thư điện tử” với Trung tâm thông tin – thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội...

Tổng hội đã phối hợp với Trung tâm các phòng thử nghiệm Việt Nam tổ chức thành công hội thảo tại Mining 2012 ở cung văn hóa Hữu nghị về “ Địa chất và Khoáng sản ứng dụng các công cụ quản lý trong doanh nghiệp khoáng sản và các doanh nghiệp có liên quan”, trong đó Tổng hội địa chất Việt Nam đã có 09 báo cáo trình bày tại Hội thảo về các lĩnh vực dầu khí, than, Bauxit, titan, đất hiếm, một số loại khoáng sản khác…Tổng hội đã tổ chức một buổi Hội Thảo Khoa học về chủ đề “ Đá quý và thế giới tâm linh”, đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học và có sự tham gia của đông đảo công chúng, trong đó có nhiều cán bộ nhân viên của Công ty Bảo tín – Minh Châu.Nhiều hội viên của Tổng hội tích cực tham gia viết bài và trình bày báo cáo khoa học, tham gia Hội đồng Biên tập khoa học để nhận xét, biên tập các báo cáo khoa học in trong tuyển tập Hội nghị Khoa học Địa chất và Khoáng sản với chủ đề “ Địa chất và khoáng sản Viêt nam 70 năm phát triển”.

Tổng hội tham dự hội thảo và góp ý kiến cụ thể cho Dự thảo Kế hoạch Truyền thông phổ biến kiến thức KHCN giai đoạn 2016-2020 của Liên hiệp các Hội KHKT Việt Nam, phối hợp Bộ Khoa học và Công nghệ trình Thủ tướng Chính phủ Quyết định phê duyệt (ngày 9/12/2015).

Hiên Văn phòng Tổng hội đã thiết lập “ Tiểu Thư viện” để bảo quản, trưng bày và giới thiệu tất cả các ấn phẩm như: giáo trình, sách khoa học, thơ, truyên ngắn… của các Hội viên tặng Tổng hội.

Trang Web của Tổng hội tiếp tục duy trì, hoạt động bình thường, đã có trên 4 triệu lượt người truy cập (đến 6/2016).Các Website của các Hội chuyên ngành như Tuyển khoáng, Công nghệ khoan khai thác Việt Nam, Địa chất thủy văn Việt Nam, Địa chất công trình và Môi trường Việt Nam đều hoạt động tốt đã có hàng chục nghìn lượt người truy cập.Trang Web của Tổng hội cũng như các trang Web khác của các tổ chức KHHCN và các Hội chuyên ngành đã làm tốt công tác tuyên truyền phổ biến kiến thức, góp phần tích cực phát triển nagnfh ĐCV và đưa ĐCVN đến vợi cộng đồng.

2.7. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đề góp phần phát triển ngành ĐCVN

 Tổng hội đã đẩy mạnh hợp tác quốc tếđể phát triển ngành ĐCVN thông qua các hoạt động như:

 a) Cử người tham gia,dự các cuộc họp, tham gia bầu cử các Ban Khoa học, Chủ tịch, Phó chủ tchthực hiện đầy đủ nghĩa vụ báo cáo với Liên hiệp các hội khoa học Địa chất Quốc tế (IUGS), Hội Địa hoá quốc tế, Hội Địa môi trường và Quy hoạch sử dụng đất, Hội Hang động Quốc tế;

b) Tham gia vào các hoạt động của chương trình Đối sánh Địa chất quốc tế ( IGCP ) liên quan với Nam và Đông Á đặc biệt là Đề án Một Địa chất (One Geology) quốc tế; Tng hi đã được xếp hng là Tng hi tích cc (Active Organization);

c) Phát triển tác hơp tác với một số Hội Địa chất nước ngoài như Thái Lan, Indonesia, Myanmar, Nhật Bản, Lào v.v… về trao đổi học thuật, xuất bản ấn phẩm về Địa chất, mẫu vật Địa chất v.v…Văn phòng Tổng hội đã gặp gỡ và trao đổi với Chánh văn phòng Bộ Năng lượng và Mỏ của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Lào phát triển hợp tác xây dựng Hội địa chất Lào,  giao lưu giữa các nhà địa chất và khoáng sản hai nước Lào và Việt Nam;

d) Động viên hội viên tích cực tham gia các hội nghị quốc tế như Hội thảo khoa học về Tethys Nam và Đông Á ở Thái Lan, thuộc chương trình khoa học Địa chất Quốc tế (IGCP), Hội nghị về Khoa học bền Vững tại Tokyo, Nhật Bản, Hội nghi quốc tế về Nghiên cứu liên ngành các vấn đề môi trường ở Đông Nam Á (International Conference of Transdisciplinary Research on Environmental Problem in Southeastern Asia, 2014), dự Hội nghị Khoa học địa chất khu vực Đông Nam Á – Tethys tại Bắc Kinh Trung Quốc, có báo cáo Khoa học đồng thời cũng đã kiên trì góp phần bảo vệ thành công các quy định chủ quyền tên các đảo, quần đảo theo Luật Biển 1982 và Quy định của Ủy ban Bản đồ Địa chất Thế giới bỏ được các từ Sisha, Nansa trên Bản đồ địa chất châu Á mới xuất bản năm 2013, tham dự Đại hội Địa chất Đông Nam Á tại Myamar;

e) Tổng hội đã và đang tham gia và chủ trì nhiều hội nghị quốc tế liên quan khoa học, công nghệ địa chất như “HanoiGeoengineering” từ 2003 đến nay, “Toward Sustainable Society with Natural Resources.  Frontiers in Earth Resources Technologies and Environmental Conservation” (2013), “Công nghệ ứng phó với thiên tai liên quan với BĐKH” (2015), Energy and sustainability (Năng lượng và tính bền vững) (2016), Biến đổi khí hậu trong Hội thảo Quốc tế Việt Nam học lần thứ V (2016)...Hội Địa chất Thuỷ văn Phối hợp với trường ĐH Mỏ Đia chất tổ chức hội thảo quốc tế hẹp về lĩnh vực tài nguyên nước dưới đất vùng đồng bằng chất thổ.

Những hoạt động nêu trên, Tổng hội đã chấp hành đầy đủ các quy trình về đối ngoại của Đảng và Chính phủ và đã hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao, góp phần xây dựng các quan hệ khoa học với các tổ chức địa chất quốc tế để phát triển ngành ĐCVN từng bước đạt chuẩn quốc tế.

 III.  Kết luận,  kiến nghị

 Với nhiệt tình, tâm huyết của hội thành viên, các hội viên Tổng hội đại chất Việt Nam đã và đang, sẽ có những đóng góp tích cực trong xây dựng và phát triển ngành khoa học địa chất Việt Nam thông các hoạt động và kết quả: a) tổ chức triển khai các đề tài, dự án khoa học công nghệ thuộc lĩnh vực địa chất phục vụ phát triển đất nước và phát triển ngành địa chất Việt nam ;b)Đề xuất các hướng nghiên cứu mới và chuyển giao thuộc lĩnh vực khoa học, công nghệ địa chất ; c) Tích cực chuyển giao tri thức, công nghệ địa chất; d) đẩy mạnh phản biện xã hội trên cơ sở khoa học địa chất; e)Tích cực góp phần đào tạo, bồi dưỡng cán bộ khoa học địa chất Việt Nam ; f)Tổ chức các hoạt động phổ biến kiến thức, đưa khoa học địa chất đến với cộng đồng; g)Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đề góp phần phát triển ngành ĐCVN...

Những khó khăn mà Tổng hội đang gặp phải trong việc phát triển ngành ĐCVN là : chưa có được đặt hàng của các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao, của cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp về phát triển ứng dụng kho hoạc, công nghệ ĐCVN ; chưa có cơ chế thuận lợi, nguồn lực cần thiết  để Tổng hội, các hội thành viên, các hội viên tham gia trục tiếp và thường xuyên xây dụng, phát triển ngành ĐCVN.

Để Tổng hội có được nhiều kết quả tốt hơn trong xây dựng và phát triển ngành ĐCVN, kính đề nghị các cơ quan có thẩm quyền : a) Giải quyết một số khó khăn, vướng mắc nói trên;  b) Có giải pháp cụ thể, thích hợp thực hiện Nghị định 42/NĐCP về coi trọng tầng lớp trí thức, trong đó tin tưởng, mạnh dạn đặt hàng Tổng hội triển khai các nội dung xây dựng và phát triển ngành ĐCVN.

           Nhân dịp này Tổng hội ĐCVN xin được cảm ơn Đảng, Nhà nước, các bộ, ban ngành, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, các địa phương đã và đang giúp đỡ Tổng hội trong các hoạt động thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của Tổng hội cũng như trong xây dựng và phát triền ngành ĐCVN để phát triển bền vững đất nước.

 GS.TS Mai Trọng Nhuân - PCT, Trưởng Ban Khoa học Công nghệ

GS.TS Trần Văn Trị - PCT, Trưởng Ban Hợp tác Quốc tế và Phát triển

Last Updated on Saturday, 27 August 2016 11:40  

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay544
mod_vvisit_counterHôm qua879
mod_vvisit_counterTuần này4281
mod_vvisit_counterTuần trước8661
mod_vvisit_counterTháng này17228
mod_vvisit_counterTháng trước28730
mod_vvisit_counterTất cả6477630

We have: 72 guests online
IP của bạn là :: 54.224.75.202
 , 
Today: Aug 17, 2017

Liên kết Website



canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search