Nhiều vướng mắc thi hành Luật Khoáng sản sẽ được tháo gỡ

Nhiều vướng mắc thi hành Luật Khoáng sản sẽ được tháo gỡ

Nhiều vướng mắc thi hành Luật Khoáng sản sẽ được tháo gỡ

(TBTCO) - Ông Lại Hồng Thanh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Khoáng sản cho biết, Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2016/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Khoáng sản. Nghị định này sẽ có hiệu lực vào ngày 15/1/2017, kỳ vọng sẽ giải quyết những bất cập đang tồn tại hiện nay.

 

Ngày 23/12/2016, tại Hà Nội, Ban Kinh tế Trung ương phối hợp với Liên minh Khoáng sản tổ chức Tọa đàm "Chủ trương, chính sách khoáng sản sau 5 năm thực hiện và định hướng thời kỳ tới".

Vẫn còn tình trạng cấp phép tràn lan

Ông Cao Đức Phát, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương cho biết, sau 5 năm thực hiện Nghị quyết số 02, công tác quản lý nhà nước về khoáng sản cũng như hoạt động khoáng sản ở nước ta đã có những chuyển biến rõ nét; tình trạng cấp phép tràn lan cơ bản được khắc phục; ngành công nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản đã chuyển dần từ phát triển theo bề rộng sang phát triển theo chiều sâu; quy định về thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản đã đi vào thực tế cuộc sống.

“Cơ chế chính sách đủ mạnh để hoạt động khoáng sản phát triển với việc cụ thể hóa theo hướng sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại, thân thiện với môi trường; công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng và xuất khẩu khoáng sản được tăng cường”, ông Phát cho hay.

tc

Về kết quả thực hiện những mục tiêu trong Nghị quyết 02-NQ/TW, ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ Nông nghiệp Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương cho biết, sau 5 năm thực hiện đã triển khai thi công toàn diện các đề án, nhiệm vụ điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản với tổng số vốn đã thực hiện gần 1.500 tỷ đồng.

Đặc biệt, mục tiêu nâng tỷ trọng ngành công nghiệp khai khoáng tiếp tục tăng; đã hình thành một số ngành công nghiệp khai thác, chế biến sâu như: lọc, hóa dầu, sắt thép, đồng, chì – kẽm, phân bón, hóa chất, chế biến kim loại quý hiếm. Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản được các bộ ngành liên quan phối hợp với chính quyền các địa phương thực hiện đồng bộ, thường xuyên và liên tục.

Theo ông Vũ Mạnh Hùng, định hướng phát triển về khoáng sản và công nghiệp khai khoáng thời kỳ tới sẽ tiếp tục quán triệt theo mục tiêu của Nghị quyết số 02 của Bộ Chính trị. Để thực hiện, cần triển khai các chính sách khuyến khích phát triển hoạt động khoáng sản và công nghiệp khai khoáng thông qua mở rộng quyền lợi cụ thể để huy động nguồn vốn xã hội hóa; khuyến khích khai thác tiết kiệm, hiệu quả, kinh tế, sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại và thân thiện với môi trường; hạn chế tối đa hoặc dừng khai thác những loại khoáng sản khai thác chưa cho hiệu quả.

Sẽ có hướng dẫn tháo gỡ vướng mắc

Tại buổi tọa đàm, nhiều chuyên gia cũng chỉ ra những bất cấp trong hoạt quản lý khai thác khoáng sản. TS Lê Ái Thụ, Liên minh Khoáng sản cho rằng, Luật Khoáng sản 2010 là dấu mốc quan trọng trong lĩnh vực địa chất và khoáng sản. Tuy nhiên từ khi Luật có hiệu lực tới nay, các văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết Luật chậm được ban hành dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình triển khai.

“Có những quy định còn nhiều vướng mắc, chẳng hạn như tại khoản 2 Điều 77 Luật Khoáng sản 2010 thì tiền cấp quyền được xác định căn cứ vào giá, trữ lượng, chất lượng khoáng sản, loại hoặc nhóm khoáng sản, điều kiện khai thác khoáng sản. Tuy nhiên thực tế nhiều năm qua, nhiều tổ chức, cá nhân vẫn chưa hiểu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản là gì và được hiểu như thế nào. Vì trong luật và các văn bản hướng dẫn đều không giải thích”, ông Thụ nói.

“Bên cạnh đó, quy định đấu giá quyền khai thác khoáng sản còn có những bất cập. Việc đấu giá quyền khai thác khoáng sản tại các mỏ khoáng sản chưa thăm dò là không khả thi. Bởi cơ quan có thẩm quyền bán đấu giá cũng không hiểu được giá trị của vật mình đem đi bán đấu giá. Do đó, việc đấu giá quyền khai thác khoảng sản của Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa được thực hiện tại bất kỳ khu vực nào. Còn tại các địa phương cũng chỉ có vài mỏ được đấu giá”, ông Thụ cho biết.

Ông Lại Hồng Thanh, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Khoáng sản cho biết, vừa qua Chính phủ đã ban hành Nghị định 158/2016/NĐ-CP hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Khoáng sản. Nghị định này sẽ có hiệu lực vào ngày 15/1/2017, kỳ vọng sẽ giải quyết những bất cập đang tồn tại hiện nay.

“Nghị định đưa ra quy định về chế tài xử phạt đối với những doanh nghiệp khai báo không trung thực về trữ lượng khai thác khoáng sản, bổ sung quy định trách nhiệm lập sổ sách chứng từ, cách tính sản lượng của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp khai thác khoáng sản phải lắp trạm cân và camera tại các điểm khai thác như từ nơi khai thác nguyên sơ qua kho chứa tạm, từ kho chứa tới khu vực chế biến. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu việc khai sai, gian lận của doanh nghiệp”, ông Thanh cho hay.

Đối với việc đấu giá khai thác khoáng sản, ông Thanh thừa nhận trên thực tế triển khai còn nhiều lúng túng. Tuy nhiên, hiện nay 27 tỉnh thành phố đã phê duyệt đấu giá khai thác khoáng sản cho hơn 300 mỏ và 10 tỉnh đã đấu giá thành công 124 mỏ, trong đó có cả những mỏ chưa thăm dò.

“Đối với những mỏ lớn thuộc quyền đấu giá của Bộ Tài nguyên và Môi trường chưa thực hiện được là do chưa đủ điều kiện để tổ chức. Theo quy định, đấu giá phải có tối thiểu từ 3 tổ chức và có số vốn chủ sở hữu trên 50 tỷ đồng. Tuy nhiên thời gian qua khi bán hồ sơ thì số một số doanh nghiệp tham gia không đủ điều kiện nêu trên. Tại Nghị định 158 cũng đã sửa lại số DN tham gia tối thiểu còn 2 doanh nghiệp. Thời gian tới Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục thực hiện đấu giá những mỏ khoáng sản này”, ông Thanh chia sẻ./.

 

Hồng Quyên

Khai thác trái phép khoáng sản: Chưa xử lý quyết liệt

(ĐĐK)Đó là vấn đề được nhiều chuyên gia nhìn nhận tại buổi tọa đàm “Chủ trương, chính sách khoáng sản sau 5 năm thực hiện và định hướng thời kỳ tới” do Ban Kinh tế Trung ương và Liên minh Khoáng sản tổ chức ngày 23/12, tại Hà Nội.

Diễn biến phức tạp  

Đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW của Bộ chính trị về định hướng chiến lược khoáng sản và công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Thạc sĩ Vũ Mạnh Hùng, Vụ Nông nghiệp nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương cho rằng, tình trạng khai thác khoáng sản trái phép đã giảm từ năm 2012 đến nay. 

Tuy nhiên số địa phương có hoạt động khai thác khoáng sản còn nhiều, nhất là cát, sỏi lòng sông gây thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách nhà nước, ô nhiễm môi trường. 

“Tình trạng khai thác trái phép tài nguyên khoáng sản vẫn còn diễn biến phức tạp ở nhiều địa phương làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên quốc gia, thất thu ngân sách nhà nước, đồng thời tác động xấu đến môi trường nơi có tài nguyên khoáng sản bị khai thác trái phép”-ông Hùng nói. 

Nguyên nhân theo ông Hùng là do việc xử lý các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật về khoáng sản nhất là đối với hoạt động khai thác khoáng sản trái phép chưa quyết liệt, chưa có hình thức xử lý mạnh mẽ đối với một bộ phận cán bộ, thậm chí lãnh đạo chính quyền địa phương khi để xảy ra tình trạng khai thác khoáng sản trái phép kéo dài nhưng chưa xử lý dứt điểm, gây bức xúc trong dư luận.  

Ông Hùng cũng cho rằng, công tác quản lý việc cấp phép khai thác khoáng sản còn nhiều hạn chế, việc cấp phép tràn lan dẫn đến việc khai thác nhỏ lẻ, manh mún không đem lại hiệu quả quả kinh tế cao làm ô nhiễm, tàn phá môi trường kéo theo tình trạn khai thác trái phép. Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động khoáng sản chủ yếu thanh tra, kiểm tra trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản mà chưa triển khai theo đúng nghĩa của thanh tra chuyên ngành. 

Thạc sĩ Trần Thanh Thủy, Tổ chức Oxfam tại Việt Nam đã chỉ ra mối liên hệ giữa khai thác khoáng sản và nghèo đói ở cấp địa phương thông qua việc chiếm dụng đất, tác động môi trường, việc làm, tác động với cơ sở hạ tầng. 

Và bà đưa ra dẫn chứng: “Ở Thái Nguyên diện tích đất khai khoáng chiếm 1% diện tích đất tự nhiên của tỉnh; riêng các mỏ than lộ thiên đang hoạt động chiếm dụng 5.700 ha đất ở Quảng Ninh. Hàng năm khai thác than ở Quảng Ninh phát sinh 4,6 tỷ m3 đất đá thải, khai thác apatit ở Lào Cai phát sinh 3 triệu m3 đất đá thải, khai thác bauxit ở Tân Rai phát sinh 11 triệu m3 bùn đỏ. Trong khi đó cơ hội việc làm theo thống kê 2014 số lao động ngành mỏ chỉ chiếm 0,48% tổng số lao động của cả nước”. 

TS. Lê Ái Thụ, Liên minh khoáng sản cho rằng, dù đã có Luật khoáng sản năm 2010 nhưng 6 năm thi hành, quy định đấu giá gần như không được triển khai. Theo ông Thụ, tại 63 tỉnh chỉ có một vài mỏ “lẻ tẻ” được đấu giá nhưng nhìn chung thấy nhiều nơi đấu giá  không đúng quy định.  

Vai trò chính quyền các cấp 

Đưa ra phân tích: “Ở cấp địa phương, phân bổ ngân sách chủ yếu dựa vào Luật ngân sách và các văn bản hướng dẫn, các chính sách chuyên ngành về khoáng sản ít được cân nhắc trong quá trình xem xét phân bổ, vấn đề bảo hệ quyền lợi của người dân và khắc phục hậu quả môi trường chưa được chính quyền cấp địa phương quan tâm, thiếu vắng các cơ chế cho sự tham gia của cộng đồng và chính quyền cấp xã trong giám sát hoạt động khoáng sản, vai trò và trách nhiệm của chính quyền các cấp chưa được quy định cụ thể rõ ràng”, từ đó Thạc sĩ Trần Thanh Thủy đề nghị, cần đồng bộ hóa chính sách, các quy định về bảo hộ quyền lợi cộng đồng cần được đưa vào chính sách pháp luật quản lý và sử dụng ngân sách. 

Quy định rõ hơn vai trò của chính quyền các cấp trong bố trí sử dụng ngân sách phục vụ đầu tư phát triển xã hội khắc phục hậu quả môi trường nơi có hoạt động khai thác khoáng sản. Xây dựng những cơ chế cụ thể hơn cho sự tham gia của cộng đồng và chính quyền cấp xã huyện. Đồng thời công khai các thông tin về phân bổ ngân sách và đầu tư phát triển kinh tế xã hội khắc phục hậu quả môi trường. 

Trong khi đó, Thạc sĩ Vũ Mạnh Hùng cho rằng, Quốc hội cần rà soát, đánh giá việc thực hiện một số chính sách, quy định của Luật khoáng sản 2010 liên quan đến vấn đề sở hữu tài nguyên khoáng sản. Vấn đề quản lý tài sản công là khoáng sản như: tiền cấp quyền khai thác khoáng sản, đấu giá quyền khai thác khoáng sản để có định hướng hoàn thiện chính sách pháp luật về khoáng sản trong thời gian tới. 

“Bộ Tài nguyên và môi trường sớm trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản nhằm tạo sự đồng bộ đầy đủ của hệ thống pháp luật để nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước đối với tài nguyên khoáng sản. Còn Bộ Công thương sớm ban hành bộ quy chuẩn, tiêu chuẩn về chế biến sâu đối với từng loại khoáng sản có tiềm năng lớn để có cơ sở cho các tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư vào chế biến sâu sản phẩm khai khoáng”-ông Hùng đề xuất.  

H.Vũ


 

Trăn trở với ngành khai khoáng 

(PLO) - Hôm qua (23/12), Ban Kinh tế Trung ương phối hợp cùng Liên minh Khoáng sản tổ chức buổi tọa đàm “Chủ trương, chính sách khoáng sản sau 5 năm thực hiện và định hướng thời kỳ mới”. Đa số các đại biểu tham dự là các chuyên gia nghiên cứu về ngành khai khoáng đều trăn trở về tình hình hiện tại cũng như tương lai của ngành. Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Kinh tế Trung ương Cao Đức Phát chủ trì buổi tọa đàm.
Đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết 02-NQ/TW được ban hành ngày 28/10/2011, ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ Nông nghiệp - Nông thôn, Ban Kinh tế Trung ương cho biết, ngay sau khi Luật Khoáng sản năm 2010 có hiệu lực cũng như Nghị quyết 02 được ban hành, các bộ, ngành chức năng đã khẩn trương triển khai công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết hướng dẫn và thi hành luật.

Chính từ đây, ngành khoáng sản của Việt Nam có chuyển biến tích cực. Việt Nam đã hình thành và phát triển một số ngành công nghiệp, khai thác, chế biến sâu như lọc, hóa giàu, sắt thép, đồng chì – kẽm, phân bón, hóa chất, chế biến kim loại quý hiếm như Khu công nghiệp Tian tại Bình Thuận, Khu công nghiệp Alumin – nhôm tại Đắk Nông. Ngành xi măng Việt Nam vươn lên vị trí thứ 2 tại khu vực Đông Nam Á, ngành vật liệu đá ốt lát cũng phát triển mạnh tại Yên Bái, Nghệ An  và có tiếng trên thị trường quốc tế.

Nhầm lẫn giữa “tài nguyên” và “trữ lượng”?

Tuy nhiên, ông Hùng cũng cho biết, trên thực tế một số địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng  việc khai thác về sử dụng hiệu quả cũng như tiết kiệm tài nguyên khoáng sản phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trước mắt nhưng phải tính đến nhu cầu lâu dài; khai thác khoáng sản gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm an ninh – quốc phòng và phát triển bền vững. 

Theo ông Hùng, hiện tại những mặt hạn chế của ngành khai khoáng là khá nhiều. Điển hình như việc khai thác thông qua hình thức đấu giá chưa nhiều. Chưa có đổi mới về công nghệ, thiết bị khai thác, chế biến khoáng sản… “Thống kê cho thấy số lượng địa  phương để tình trạng khai thác khoáng sản trái phép còn nhiều, nhất là đối với cát, sỏi lòng sông (gần 30 tỉnh, thành), gây thất thoát lòng sông, gây thất thoát tài nguyên, thất thu ngân sách nhà nước, gây ô nhiễm môi trường, gây bức xúc trong dư luận xã hội”, ông Hùng nói.

Đồng quan điểm với ông Hùng, Tiến sỹ Nguyễn Thành Sơn, nguyên Giám đốc Ban quản lý các dự án than Đồng bằng sông Hồng thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) cho rằng việc đánh giá thực tế trữ lượng khoáng sản của chúng ta chưa đúng thực chất. Khảo sát cho thấy con số thực tế về tình trạng trữ lượng khoáng sản hiện tại rất thấp, Việt Nam chỉ có khoảng 30 khoáng vật khai thác được nhưng thuộc loại trung bình và nhỏ. “Ví dụ như Titan các mỏ Titan sa khoáng có hàm lượng rất thấp, tiêu chuẩn đánh giá trữ lượng chúng ta để quá thấp. Việt Nam chỉ có 20 triệu tấn thôi, chứ không phải 600 triệu tấn như báo cáo”, ông Sơn cho rằng chúng ta đang nhầm lẫn giữa khái niệm “tài nguyên” và “trữ lượng”. 

Công nghệ lạc hậu, chậm đổi mới

Cũng theo ông Sơn, trong ngành khai khoáng của Việt Nam, công nghệ khai thác, chế biến vừa lạc hậu, vừa chậm đổi mới và thường đi sau nước ngoài 50 năm. Vì vậy, tổn thất trong khai thác tài nguyên rất lớn. Công nghệ kỹ thuật chế biến cũng rất lạc hậu, mức độ chế biến chưa sâu, chủ yếu xuất khẩu quặng thô. “Từ việc lạc hậu về công nghệ kỹ thuật dẫn tới giá thành khai thác lớn, năng suất lao động thấp, tổn thất trong khâu chế biến cao, sản phẩm không có sức cạnh tranh và điều kiện của công nhân chậm được cải thiện”, ông Sơn nói.

Còn Phó Vụ trưởng Vụ Công nghiệp nặng, Bộ Công Thương Nguyễn Ngọc Thành cũng cho biết, cơ chế chính sách của chúng ta còn khá nhiều bất cập. Việc chúng ta hạn chế doanh nghiệp nước ngoài tham gia góp vốn trong lĩnh vực khai khoáng dẫn đến hệ quả rất lớn là chúng ta không nhận được chuyển giao công nghệ tiên tiến trong khai thác, chế biến khoáng sản: “Ví dụ như chúng ta đã kêu gọi nước Nga nhiều để họ chuyển giao công nghệ. Nhưng ta lại không cho phép họ cùng sở hữu mỏ nên họ nhất quyết nói không”.

Ông Hùng cho biết thêm, cùng với những vấn đề trên thì vấn đề nhân lực quản lý nhà nước về khoáng sản ở nhiều địa phương cũng có vấn đề. Tại các địa phương nhân lực còn mỏng về số lượng, yếu về chất lượng cũng như chuyên gia về khoáng sản. Cùng với đó, trách nhiệm quản lý bảo vệ tài nguyên khoáng sản của cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương còn buông lỏng, việc xử lý các tổ chức cá nhân, vi phạm pháp luật về khoáng sản, nhất là các hoạt động khoáng sản trái phép chưa quyết liệt. Chưa có hình thức xử lý mạnh với cán bộ sai phạm, thậm chí lãnh đạo chính quyền địa phương khi để xảy ra tình trạng khai khoáng kéo dài nhưng không xử lý dứt điểm.

Định hướng nào cho tương lai?

Theo ông Vũ Mạnh Hùng, những quan điểm và mục tiêu về khoáng sản công nghiệp khai khoáng đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 tại Nghị quyết 02 phù hợp với nội dung quản lý nhà nước đối với tài nguyên khoáng sản hiệu quả, bền vững, đồng thời vẫn phù hợp với bối cảnh, tình hình kinh tế - xã hội hiện nay và giai đoạn tới. Do đó, cần tiếp tục quán triệt thực hiện Nghị quyết 02 thông qua việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Khoáng sản và chính sách khuyến khích phát triển hoạt động khoáng sản; phát triển hợp tác quốc tế trong khai khoáng…

Ông Lê Ái Thụ, Tổng hội Địa chất Việt Nam thì cho rằng, việc đấu giá quyền khai thác mỏ cần minh bạch hơn. Bởi vì trên thực tế, nếu đấu giá tại khu vực chưa có kết quả thăm dò còn rất “tù mù”, mơ hồ, Nhà nước không biết vật mang đấu giá to như thế nào và nhỏ như thế nào. Còn đấu giá khu vực có kết quả thăm dò, như mỏ đồng Sinh Quyền, Nhà nước bỏ tiền ra thăm dò mà các mỏ đã có chủ.

Nhắc lại thời điểm năm 2008, ông Sơn cho rằng đó là thời điểm đỉnh cao của ngành khai khoáng. Theo ông, sẽ không lặp lại thời kỳ đó bao giờ nữa trong tương lai. Ông cho rằng thế giới hiện giờ đang trong cuộc cách mạng khoa học lần thứ 4, các nước đang giảm dần sự phụ thuộc vào tài nguyên khoáng sản. Do vậy, theo ông, Việt Nam cũng phải chuyển dần từ khai thác khoáng sản sang khai thác tài nguyên thiên nhiên những thứ vô tận và tái tạo được như khai thác năng lượng mặt trời, năng lượng gió, đất.

Phạm Diệu

 


Last Updated on Monday, 26 December 2016 23:31  

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay745
mod_vvisit_counterHôm qua615
mod_vvisit_counterTuần này1360
mod_vvisit_counterTuần trước6438
mod_vvisit_counterTháng này19706
mod_vvisit_counterTháng trước28730
mod_vvisit_counterTất cả6480108

We have: 76 guests online
IP của bạn là :: 54.158.217.43
 , 
Today: Aug 20, 2017

Liên kết Website



canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search