Đánh giá tiêm năng và bước đâu đềxuât khai thác sử dụng khoáng sản titan – zircon trên địa bản tỉnh Bình Thuận theo hướng bên vững

Đánh giá tiêm năng và bước đâu đềxuât khai thác sử dụng khoáng sản titan – zircon trên địa bản tỉnh Bình Thuận theo hướng bên vững

Tham dự tọa đàm có Bí thư tỉnh ủy Bình Thuận Nguyễn Mạnh Hùng, các cơ quan ban ngành tỉnh và các nhà khoa học. Tọa đàm bước đầu đánh giá về quy hoạch ti tan trên địa bàn tỉnh Bình Thuận, đặt trong mối quan hệ với các hoạt động kinh tế xã hội khác như nông nghiệp, lâm nghiệp, du lịch, năng lượng mới.; giúp tỉnh Bình Thuận có thêm góc nhìn đa chiều về hoạt động khai thác ti tan, qua đó có những đề xuất phù hợp với trung ương cho phù hợp với tình hình thực tế.

 

CHƯƠNG TRÌNH TỌA ĐÀM
Đánh giá tiềm năng và bước đầu đề xuất khai thác và sử dụng theo hướng bền vững khoáng sản Titan – Zircon trên địa bàn tỉnh Bình Thuận Bình Thuận, ngày 08 tháng 07 năm 2017 Thời gian Nội dung 7:30 – 8:00 Đăng ký đại biểu Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Thuận 8:00 – 8:15 Tuyên bố lý do, giới thiệu đại biểu, chương trình tọa đàm, mời chủ trì thư ký tọa đàm làm việc Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Bình Thuận Phát biểu khai mạc Ông Nguyễn Việt Dũng, đại diện Trung tâm Con người và Thiên nhiên 8:15 – 8:40 Báo cáo đề dẫn: Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và những vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững của tỉnh Bình Thuận Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Thuận 8:40 – 9:00 Báo cáo đề dẫn: Những vấn đề cần cân nhắc trong khai thác chế biến quặng Titan – Zircon ở Bình Thuận GS.TSKH. Đặng Trung Thuận – Đại diện cho Đoàn chuyên gia của Trung tâm Con người và Thiên nhiên 9:00 – 9:30 Báo cáo tham luận:

Đặc điểm tài nguyên nước và các vấn đề về nước trong khai thác khoáng sản Titan tại tỉnh Bình Thuận PGS.TS. Đoàn Văn Cánh, Chủ tịch Hội Địa chất Thủy văn Việt Nam

Tài nguyên thiên nhiên và chiến lược phát triển tỉnh Bình Thuận TS. Nguyễn Thành Sơn, Chuyên gia độc lâp 9:30 – 9:45 Giải lao 9:45 – 11:30 Tiếp tục thảo luận và đóng góp ý kiến của các đại biểu tham dự Tọa đàm 11:30 – 11:45 Phát biểu ý kiến của lãnh đạo tỉnh Bình Thuận 11:45 – 12:00 Tổng hợp ý kiến của tọa đàm và đề xuất một số hoạt động tiếp theo Đại diện Đoàn chuyên gia của Trung tâm Con người và Thiên nhiên 12:00 Kính mời đại biểu tham dự tọa đàm ăn trưa

Chủ trì tọa đàm:  Ông Nguyễn Ngọc Hai – Chủ tịch UBND tỉnh Bình Thuận  GS.TSKH Đặng Trung Thuận – Chủ tịch Hội Địa hóa Việt Nam  TS. Phạm Quang Tú – Đại diện Trung tâm Con người và Thiên nhiên Thư ký tọa đàm  Bà Nguyễn Hải Vân – Trung tâm Con người và Thiên nhiên  Ông Lương Thanh Sơn – Phó Chủ tịch, Liên hiệp Hội KH-KT Bình Thuận

SỞ KẾ HOẠCH & ĐẦU TƯ TỈNH BÌNH THUẬN

BÁO CÁO ĐỀ DẪN Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và những vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững của tỉnh Bình Thuận

1. Tổng quan về vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên: Bình Thuận là tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có mối liên hệ chặt chẽ và chịu ảnh hưởng tác động mạnh mẽ của địa bàn kinh tế trọng điểm phía Nam, có tổng diện tích tự nhiên 7.812,81 km2 (trong đó: Đất nông lâm nghiệp chiếm 88,6%; đất phi nông nghiệp chiếm 8,1% và đất chưa sử dụng chiếm 3,3%); diện tích rừng 346.278 ha. Dân số toàn tỉnh hơn 1,2 triệu người. Tỉnh Bình Thuận có vị trí thuận lợi để phát triển kinh tế, cách thành phố Hồ Chí Minh 198 km, cách thành phố Vũng Tàu 150 km, thành phố Đà Lạt 175 km, thành phố Nha Trang 250 km; có Quốc lộ 1, Quốc lộ 55, Quốc lộ 28, Quốc lộ 28B và đường sắt Bắc- Nam chạy qua. Vùng biển thuộc biển Đông tiếp giáp đường hàng hải quốc tế; bờ biển dài 192 km, lãnh hải rộng 52.000 km2. Tỉnh Bình Thuận nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt: mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình 27°C. Lượng mưa trung bình 1.024 mm, độ ẩm tương đối 79%. Tổng số giờ nắng trong năm là 2.459 giờ, ít bị ảnh hưởng bởi mưa bão và động đất. Nhìn chung đặc điểm khí hậu Bình Thuận rất thuận lợi cho các loại cây trồng vật nuôi có năng suất cao, phát triển năng lượng tái tạo (năng lượng mặt trời, điện gió). Là tỉnh có tiềm năng và tài nguyên về biển, rừng, nông nghiệp, khoáng sản, du lịch và năng lượng. Đặc biệt lợi thế về tài nguyên biển có thềm lục địa rộng, cùng với Khu kinh tế đảo Phú Quý. Bờ biển có cảnh quan thiên nhiên và nhiều bãi tắm đẹp, di tích lịch sử, văn hóa phong phú. Hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông, du lịch biển và ven biển...tạo cho tỉnh Bình Thuận có lợi thế để phát triển mạnh du lịch, giải trí. Về tài nguyên khoáng sản, Bình Thuận có gần 100 mỏ với 30 nhóm khoáng sản đa dạng như: vàng, chì, kẽm, nước khoáng... Trong đó, về sa khoáng titan (ilmenit-zircon): Trữ lượng và tài nguyên dự báo quặng titan cả nước khoảng 650 triệu tấn khoáng vật nặng (trong đó khoảng 78 triệu tấn zircon); trữ lượng và tài nguyên dự báo khu vực Bình Thuận khoảng 599 triệu tấn, chiếm 92% tổng trữ lượng và tài nguyên quặng titan cả nước. Trên địa bàn tỉnh có 15 điểm mỏ quặng titan, chủ yếu tập trung ở các điểm mỏ: Tiểu khu Lương Sơn (huyện Bắc Bình, Hàm Thuận
Bắc và Tuy Phong), Nam Phan Thiết và Tuy Phong. Hiện đang được khai thác ở mỏ Chùm Găng và Bàu Dòi (Hàm Tân), Hòa Thắng (Bắc Bình), Suối Nhum (Hàm Thuận Nam). 2. Tổng quan về kinh tế - xã hội: Quy mô tổng giá trị sản phẩm nội tỉnh (GRDP theo giá hiện hành) của tỉnh Bình Thuận tăng liên tục qua các năm: từ 23.130 tỷ đồng năm 2010 lên 44.573 tỷ đồng vào năm 2015 và 49.452 tỷ đồng năm 2016 (gấp 2,4 lần so với năm 2010). Trong giai đoạn 2010 - 2016, Bình Thuận luôn duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức khá. Tốc độ tăng tổng sản phẩm nội tỉnh (GRDP) giai đoạn 2011 - 2015 là 6,86%/năm, trong đó: Khu vực nông lâm thủy sản tăng 4,88%/năm, Khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 9,47%/năm, Khu vực dịch vụ tăng 7,09%/năm. Tốc độ tăng GRDP năm 2016 là 7,42%. Tổng sản phẩm GRDP bình quân đầu người (GRDP/người) của tỉnh giai đoạn 2010-2016 tăng nhanh đạt bình quân 10,1%/năm, từ 19,7 triệu đồng (tương đương 1.008 USD) năm 2010 lên 36,7 triệu đồng (tương đương 1.695 USD) vào năm 2015 và lên 39,9 triệu đồng (tương đương 1.800 USD) vào năm 2016. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ; tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ trong giá trị tăng thêm (VA) tăng từ 67,07% (năm 2010) lên 69,74% (năm 2015) và 70,7% (năm 2016); nông -lâm- thủy sản giảm từ 32,93% (năm 2010) còn 30,26% (năm 2015) và 29,3% (năm 2016). 3. Đánh giá chung trong thực hiện phát triển bền vững đến năm 2016: Trong quá trình tổ chức triển khai Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 của Chính phủ và Chương trình hành động của UBND tỉnh triển khai thực hiện Chiến lược phát triển bền vững Việt Nam, nhìn chung, trong bối cảnh không ít khó khăn, tình hình phát triển các mặt của tỉnh tiếp tục ổn định và có những chuyển biến theo hướng tích cực. Kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tiềm năng và lợi thế của tỉnh được khai thác ngày càng tốt hơn và đang đứng trước những triển vọng tốt. Hoạt động văn hóa – xã hội có những chuyển biến tiến bộ. Các chính sách an sinh xã hội được thực hiện khá tốt. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn căn bản được giữ vững. Tuy nhiên, tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển còn chậm, có mặt chưa vững chắc, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế có được và đang tồn tại không ít những khó khăn, vướng mắc. Cụ thể: - Kinh tế tăng trưởng chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế hiện có, khả năng cạnh tranh còn yếu. - Sản xuất công nghiệp gặp khó khăn, đa số doanh nghiệp có quy mô nhỏ, công nghệ lạc hậu, sức cạnh tranh yếu và khó tiếp cận các nguồn vốn tín dụng. Tiến
độ đầu tư hạ tầng và thu hút đầu tư vào các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn chậm. Hoạt động xuất khẩu hàng hóa chưa có bước đột phá. - Tiềm năng du lịch chưa được khai thác tối đa. Sản phẩm dịch vụ du lịch chưa đa dạng, chất lượng chưa cao,… Chưa khai thác, phát huy hiệu quả Chương trình liên kết phát triển du lịch Bình Thuận với các tỉnh lân cận. Kết cấu hạ tầng du lịch nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu phát triển. Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch chưa mang tính chuyên nghiệp. - Công tác quản lý nhà nước về tài nguyên khoáng sản còn nhiều bất cập; quản lý, khai thác và sử dụng tài nguyên khoáng sản, sa khoáng titan có nơi chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Theo Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến titan được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1546/QĐ-TTg, trên địa bàn tỉnh Bình Thuận có 25 khu vực với tổng diện tích đưa vào quy hoạch titan 19.339 ha, trong đó có chồng lấn 33 dự án đầu tư phát triển kinh tế - xã hội đã được chấp thuận với tổng diện tích 4.576 ha (chồng lấn tập trung tầng cát xám dọc ven biển). Các dự án được chấp thuận đầu tư du lịch, trồng rừng, khu công nghiệp có diện tích chồng lấn chưa thể tiếp tục triển khai thực hiện dự án. Đến nay, việc cấp phép khai thác khoáng sản titan và khai thác xong bàn giao đất cho Chủ dự án chưa biết cụ thể thời gian đến khi nào nên gây bức xúc cho nhà đầu tư cũng như khó khăn trong công tác quản lý nhà nước ở địa phương và phát triển kinh tế xã hội. 4. Một số vấn đề đặt ra trong phát triển bền vững của tỉnh Bình Thuận trong thời gian đến: Trên cơ sở quan niệm và tiêu chí nền tảng về phát triển bền vững, dựa trên những đặc thù về điều kiện tự nhiên, lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa, tỉnh Bình Thuận đã hoạch định chiến lược phát triển bền vững của mình trong điều chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 2532/QĐTTg ngày 28/12/2016, cụ thể như sau: a. Về quan điểm phát triển: - Phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận trong tổng thể phát triển chung của cả nước và khu vực; phù hợp với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Miền Trung, quy hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. - Huy động cao nhất các nguồn lực để đẩy nhanh tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, sớm rút ngắn chênh lệch và tiến kịp trình độ phát triển chung của cả nước. Xây dựng Bình Thuận trở thành một tỉnh có cơ cấu kinh tế công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp theo hướng hiện đại.
- Phát triển kinh tế - xã hội bền vững: Kết hợp tăng trưởng kinh tế với đảm bảo thực hiện công bằng xã hội; bảo vệ tài nguyên - môi trường; đồng thời, thường xuyên rà soát quá trình phát triển để điều chỉnh cho phù hợp. - Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng - an ninh trên từng địa bàn. b. Mục tiêu phát triển: Khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế, chủ động hội nhập, phát triển kinh tế biển, du lịch, năng lượng. Xây dựng và phát triển Bình Thuận đến năm 2030 căn bản trở thành một tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, tập trung xây dựng 3 trung tâm mang tầm quốc gia: Trung tâm du lịch – thể thao biển; trung tâm năng lượng; trung tâm chế biến quặng sa khoáng titan; có đủ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội thiết yếu, đồng bộ, liên thông với cả nước; quan hệ sản xuất tiến bộ; an sinh xã hội và phúc lợi xã hội được bảo đảm, đời sống nhân dân được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người không thấp hơn bình quân chung của cả nước, môi trường được bảo vệ tốt; quốc phòng – an ninh không ngừng được củng cố, trật tự xã hội được giữ vững. c. Phương hướng phát triển bền vững: (c1) Về kinh tế: - Đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững gắn với các chương trình mục tiêu phát triển nông thôn mới trên cơ sở cân đối các nguồn lực, các quy hoạch ngành cấp vùng và quốc gia, góp phần tăng trưởng kinh tế một cách ổn định, bền vững. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn đi đôi với bảo vệ môi trường, tăng cường đối thoại, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh gắn với bảo vệ môi trường; nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh các sản phẩm lợi thế của tỉnh. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn gắn với ưu tiên thực hiện các cơ chế, chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Xây dựng chuỗi liên kết giữa sản xuất, thu mua, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông sản, mở rộng thị trường nội địa đối với các sản phẩm lợi thế của tỉnh. - Phát triển công nghiệp phải đặt trong sự phát triển nhanh và bền vững, gắn với bảo vệ môi trường, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo đảm an ninh - quốc phòng; Công nghiệp phát triển nhanh và bền vững trở thành động lực chính thúc đẩy các ngành nông – lâm – ngư nghiệp, xây dựng, dịch vụ phát triển. Tập trung phát triển công nghiệp điện năng, công nghiệp chế biến thủy sản, công nghiệp chế biến sâu quặng sa khoáng titan. - Phát triển khu vực dịch vụ gắn với thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Đa dạng hóa các ngành dịch vụ, nhất là các ngành có giá trị gia tăng cao,
chất lượng cao với cơ sở hạ tầng hiện đại, phương thức kinh doanh tiên tiến. Phát triển đa dạng các loại hình sản phẩm dịch vụ du lịch biển, đảo. (c2) Về xã hội: - Phấn đấu đưa ngành giáo dục và đào tạo tỉnh Bình Thuận đạt bằng các chỉ tiêu chung của cả nước - Phát triển thị trường lao động đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyển dụng lao động và sử dụng lao động; đẩy mạnh đào tạo và hỗ trợ tạo việc làm theo hướng phát triển bền vững. - Phấn đấu đạt chuẩn các chỉ tiêu về y tế, văn hóa, thể dục thể thao ngang bằng mức trung bình của cả nước. - Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội. Không để bất cứ hộ gia đình chính sách nào có mức sống dưới mức trung bình của cư dân cùng địa bàn. Quan tâm đúng mức vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Triển khai các biện pháp nhằm từng bước thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục, chăm sóc sức khỏe, hưởng thụ văn hóa giữa các vùng trong tỉnh. (c3) Về môi trường: - Đặt yêu cầu bảo vệ môi trường lên trên hết khi xem xét các dự án đầu tư; không chấp nhận đầu tư các dự án có công nghệ, trang thiết bị lạc hậu, không thân thiện với môi trường. - Xây dựng và thực hiện các giải pháp hạn chế và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, đặc biệt ở các điểm khai thác khoáng sản (đặc biệt là khai thác titan, khai thác cát trắng, đá các loại...) đồng thời với giải pháp hoàn thổ để tái tạo môi trường, các khu công nghiệp, trung tâm nhiệt điện, các đô thị (Phan Thiết, La Gi, Phan Rí Cửa) và các khu du lịch. - Các dự án thăm dò, khai thác titan theo Quyết định số 1546/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phần lớn nằm dọc ven biển, có địa hình cao so với các dự án, khu dân cư xung quanh, chồng lấn dự án, quy hoạch du lịch, khả năng cung cấp nước cho hoạt động khai thác rất khó khăn, an toàn khu vực mỏ không cao khi đi vào hoạt động. Do đó, quan điểm của tỉnh là việc chấp thuận đầu tư và cấp phép khai thác khoáng sản phải phù hợp với năng lực chế biến, sử dụng và bảo đảm yêu cầu về môi trường theo đúng chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 30 tháng 3 năm 2015 về việc tăng cường hiệu lực thực thi chính sách, pháp luật về khoáng sản. - Đánh giá tiềm năng, trữ lượng các loại khoáng sản trên địa bàn toàn tỉnh để rà soát quy hoạch, kế hoạch khai thác, quản lý, bảo vệ, bảo đảm sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Thực hiện tốt công tác phân công, phân cấp quản lý nhà nước đối với các loại tài nguyên đất, nước, rừng, khoáng sản,...theo quy định của pháp luật.
- Khuyến khích phát triển, sử dụng năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Xây dựng thủy lợi nhỏ cho cộng đồng, đảm bảo nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt của người dân. d. Giải pháp thực hiện phát triển bền vững: (d1) Tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững: - Huy động hợp lý các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Sử dụng hiệu quả nguồn vốn ngân sách nhà nước. - Đẩy mạnh việc cải thiện môi trường đầu tư, môi trường kinh doanh cho phát triển sản xuất, kinh doanh; giải quyết đồng bộ từ sản xuất đến chế biến, tiêu thụ một số sản phẩm chủ yếu đang có sức cạnh tranh hoặc có điều kiện nâng cao năng lực cạnh tranh; chủ động và có lộ trình hợp lý hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế. - Đẩy mạnh xã hội hóa một số ngành, lĩnh vực xã hội (giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa - thông tin và thể dục thể thao) để huy động các nguồn lực trong và ngoài tỉnh cho phát triển những ngành, lĩnh vực kể trên. - Đầu tư phát triển khoa học - công nghệ, tạo ra bước đột phá về chất lượng sản phẩm hàng hóa; Coi trọng việc áp dụng công nghệ tiên tiến trong công nghệ khai thác, công nghệ sản xuất vật liệu mới và công nghệ chế biến. - Chú trọng các công nghệ xử lý chất thải công nghiệp, chất thải đô thị và hoàn thổ sau khi khai thác khoáng sản trong việc bảo vệ môi trường, phòng chống ô nhiễm các vùng cửa sông, bảo vệ tài nguyên sinh học rừng, đồi cát đặc thù ven biển, sinh vật biển, phi sinh học để phát triển bền vững. - Đẩy nhanh tiến độ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của hệ thống các trường của tỉnh Bình Thuận. Tiếp tục hoàn thiện mạng lưới cơ sở dạy nghề hợp lý, tập trung vào nâng cao năng lực các trường, các trung tâm dạy nghề cấp huyện bằng nâng cấp trang thiết bị, xây dựng trường, lớp học, tăng cường số lượng và năng lực đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, gắn lý thuyết với thực hành… - Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu, nâng cao hiệu quả và liên kết giữa các ngành, lĩnh vực và liên kết, hợp tác với các địa phương trong cả nước và hội nhập quốc tế. Tập trung chỉ đạo tái cơ cấu sản xuất, ưu tiên phát triển những sản phẩm có giá trị gia tăng cao, áp dụng công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghệ sạch, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ môi trường. - Tiếp tục triển khai thực hiện chính sách đổi mới công nghệ - thiết bị đối với các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm lợi thế của tỉnh; vận động, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư đổi mới dây chuyền công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, cho năng suất và giá trị gia tăng cao. (d2) Về những vấn đề khai thác khoáng sản phải đi đôi với phát triển bền vững:
Bình Thuận là một trong những tỉnh khô hạn nhất nước. Nguồn nước mặt, nước ngầm tại địa phương khan hiếm, hoạt động khai thác titan cần rất nhiều nước. Các khu vực quy hoạch khai thác titan đều nằm ven biển, nơi có diện tích phân bố cát rất rộng lớn và hạn chế nguồn nước ngọt, chỉ có các ao hồ, sông suối nhỏ có nước vào mùa mưa nhưng cũng chỉ đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tưới tiêu cho canh tác hoa màu, nông nghiệp của dân. Vì vậy, càng nhiều khu vực được quy hoạch, cấp giấy phép khai thác titan thì nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt và canh tác của người dân càng ít đi và chất lượng nước càng bị ảnh hưởng. Để hoạt động khai thác khoáng sản phát triển bền vững cần quan tâm, thực hiện một số vấn đề trong thời gian tới: - Rà soát xem xét để điều chỉnh lại Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng titan giai đoạn đến năm 2020, có xét tới năm 2030 theo Quyết định số 1546/QĐ-TTg ngày 03 tháng 9 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ cho phù hợp với thực tế hiện nay, theo hướng cắt giảm, đóng cửa mỏ các khu vực nhỏ, lẻ, chỉ thực hiện ở khu vực mỏ tập trung có quy mô lớn. Khu vực mỏ nào có ảnh hưởng đến dân sinh, không an toàn mỏ, không đảm bảo nguồn nước; nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nước, đất, sức khỏe nhân dân; công nghệ khai thác lạc hậu thì đưa vào dự trữ quốc gia và điều chỉnh tập trung vào khu vực tầng cát đỏ, tiểu khu Lương Sơn – Bắc Bình hiện còn khoảng hơn 5.000 ha chưa cấp phép. - Trong khi chờ đợi rà soát điều chỉnh Quy hoạch titan, đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường nghiên cứu, xem xét giải quyết về đề nghị cho phép tỉnh Bình Thuận chấp thuận đầu tư triển khai 33 dự án phát triển kinh tế - xã hội có chồng lấn diện tích 4.576 ha (tập trung trong tầng cát xám dọc ven biển), trong đó có các dự án năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió), dự án du lịch nằm trong vùng dự trữ khoáng sản quốc gia, theo đó sẽ yêu cầu chủ đầu tư dự án có trách nhiệm bảo vệ quặng titan trong khu vực dự trữ quốc gia, không được khai thác thu hồi quặng titan. (Danh sách dự án kèm theo). - Trong thời gian 30-50 năm tới, đối với các khu vực quy hoạch dự trữ khoáng sản chưa triển khai khai thác thì cho phép địa phương được chấp thuận đầu tư các dự án phát triển kinh tế - xã hội trong các vùng này. - Triển khai thực hiện tốt quy hoạch, phải gắn khai thác với chế biến sâu theo kế hoạch, có lộ trình phù hợp, khai thác phải gắn hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội, và bảo vệ môi trường. - Thăm dò, khai thác quy mô lớn nguyên liệu quặng titan – zircon tập trung tại khu vực tiểu khu Lương Sơn – Bắc Bình để cung cấp cho các dự án nhà máy chế biến sâu tại khu vực; đẩy nhanh tiến độ xây dựng các nhà máy chế biến sâu quặng titan (rutil nhân tạo, pigmen, titan xốp, titan kim loại) theo hướng công nghệ tiên tiến, không gây ô nhiễm môi trường; hình thành ngành công nghiệp khai khoáng titan – zircon tương xứng với tiềm năng tài nguyên khoáng sản của tỉnh để từng bước
xây dựng Bình Thuận thành Trung tâm năng lượng và Trung tâm chế biến sa khoáng titan lớn của cả nước. - Nghiên cứu, ứng dụng những công nghệ tiên tiến vào khai thác quặng titan; đưa các thiết bị tuyển tách quặng titan trong tầng cát đỏ về các địa phương, nhằm thu hồi triệt để và hạn chế lãng phí tài nguyên quặng titan./. (Phan Thiết, ngày 07/7/2017)

 

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay176
mod_vvisit_counterHôm qua838
mod_vvisit_counterTuần này2448
mod_vvisit_counterTuần trước7067
mod_vvisit_counterTháng này17600
mod_vvisit_counterTháng trước33271
mod_vvisit_counterTất cả6511273

We have: 67 guests online
IP của bạn là :: 54.158.21.160
 , 
Today: Sep 20, 2017

Liên kết Website


Thời Tiết

Thăm dò ý kiến bạn đọc

Theo bạn, website của tổng hội cần ?
 

canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search