VẤN ĐỀ ĐẢM BẢO AN NINH NƯỚC SẠCH CỦA THỦ ĐÔ HÀ NỘI

I. Nước ngầm là nguồn nước tốt nhất đảm bảo an ninh nước sạch của Thủ đô.

1. Hà Nội có trữ lượng nước ngầm rất lớn - đạt trên 8,2 triệu m3/ngày

Theo số liệu điều tra và thống kê của Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước trên địa phận TP.Hà Nội” do Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thực hiện và hoàn thành vào năm 2011 đã cho thấy, tổng trữ lượng (tiềm năng) nước ngầm trên địa bàn TP. Hà Nội đạt trên 8,2 triệu m3/ngày (bảng 1)

 

Bảng 1. Trữ lượng (tiềm năng) nước ngầm của TP. Hà Nội

TT

Vùng tính toán

Trữ lượng động tự nhiên (103m3/ngày)

Trữ lượng tĩnh tự nhiên (103m3/ngày)

Trữ lượng tĩnh đàn hồi

(103m3/ngày)

Trữ lượng cuốn theo

(103m3/ngày)

Tổng trữ lượng (tiềm năng)

(103m3/ngày)

I

Tầng chứa nước cát hệ tầng Thái Bình (qh)

 

1

Bắc sông Hồng - Sông Đuống

467

8

 

 

475

 

234

2

Gia Lâm

231

4

 

 

1.685

3

Nam sông Hồng

1.625

60

 

 

 

 

Tổng

2.323

72

 

 

2.394

II

Tầng chứa nước cát cuội sỏi hệ tầng Hà Nội (qp)

 

1

Bắc sông Hồng-

Sông Đuống

 

410

 

 

120

 

1.323

 

1.654

2

Gia Lâm

128

 

12.3

660

800

3

Nam sông Hồng

623

 

43.3

2.728

3.395

 

Tổng

1.161

 

676

4.711

5.849

III

Nước ngầm trong các tầng đá gốc

1

Ba Vì

50

 

 

 

50

2

Sóc Sơn

68

 

 

 

68

 

Tổng trữ lượng vùng Hà Nội

 

3.486

 

72

 

67.6

 

4.711

 

8.243

Như vậy, tổng trữ lượng (tiềm năng) nước ngầm của Hà Nội là 8.243.000 m3/ngày, trong đó riêng của tầng chứa nước cát cuội sỏi (tầng chứa nước qp theo cách gọi của các nhà ĐCTV) nằm ở độ sâu trung bình từ 30 - 40m đến 60 - 80m là tầng chứa nước chính đang được khai thác từ hơn 1 thế kỉ nay đáp ứng mọi nhu cầu cấp nước của toàn Thành phố có trữ lượng là 5.849.000 m3/ngày và chỉ riêng trữ lượng khai thác cuốn theo nhận bổ cấp trực tiếp từ sông Hồng đã đạt 4.711.000m3/ngày.

Ở Việt Nam, không có thành phố hoặc tỉnh nào có trữ lượng nước ngầm phong phú như Hà Nội và là nguồn nước tốt nhất đảm bảo an ninh nước sạch đủ cấp cho các nhu cầu dùng nước của Thủ đô đến giữa thế kỷ 21.

2. Hà Nội mới khai thác tập trung khoảng 17% số trữ lượng nước ngầm của tầng chứa nước cuội sỏi (qp) đã được khai thác từ hơn 1 thế kỷ nay

Trên lãnh thổ Việt Nam, không ở đâu có nguồn nước ngầm có trữ lượng phong phú và khai thác dễ dàng, thuận tiện và kinh tế như ở Hà Nội, đã được người Pháp đưa vào khai thác sử dụng từ cuối thế kỉ thứ 19 (năm 1895) để xây dựng Nhà máy nước Yên Phụ nằm bên bờ sông Hồng đáp ứng các nhu cầu cấp nước của đô thị Hà Nội từ lúc bấy giờ. Cho đến nay, theo số liệu điều tra của Dự án xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên nước trên địa phận TP. Hà Nội do Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội thực hiện và hoàn thành vào năm 2011 cho thấy, tổng lượng khai thác nước ngầm trên địa bàn TP. Hà Nội đã đạt khoảng 1,8 triệu m3/ngày (xem bảng 2)

Bảng 2. Tổng lượng khai thác nước ngầm TP. Hà Nội

TT

Loại hình khai thác và đơn vị quản lý

Loại công trình khai thác

Số lượng công trình

Lượng khai thác (m3/ngày)

1

Khai thác công nghiệp tập trung

Các NMN do các công ty nước sạch Hà Nội quản lí: Hà Nội 1, Hà Nội 2, Hà Đông và Sơn Tây.

Giếng khoan đường kính lớn

279

669.000

2

Khai thác công nghiệp đơn lẻ

Các trạm cấp nước do các cơ quan, xí nghiệp, trường học, bệnh viện quản lý

Giếng khoan đường kính lớn đến trung bình

1.102

312.728

3

 

Cấp nước sạch nông thôn

Giếng khoan mini đường kính nhỏ, giếng đào

793.637

797.682

 

Tổng cộng

 

 

1.779.410

Như vậy, tổng lượng khai thác nước ngầm toàn Thành phố đến năm 2011 mới chỉ có 1.779.410m3/ngày, chiếm khoảng 21,8% tổng trữ lượng nước ngầm của toàn Thành phố là 8.243.000m3/ngày.

Trong tổng số lượng nước ngầm được khai thác là 1.779.410m3/ngày, thì lượng nước khai thác công nghiệp (khai thác tập trung do các Công ty nước sạch, cơ quan, xí nghiệp quản lí) từ tầng chứa nước cát cuội sỏi (qp) chỉ có 981.728m3/ngày và tập trung ở các quận nội thành vùng bờ Nam Sông Hồng, nghĩa là cũng chỉ khai thác có 16,8% trong tổng số trữ lượng của tầng chứa nước cuội sỏi (qp) là 5.849.000m3/ngày.

Tất cả những điều đó nói lên rằng, nguồn nước ngầm của Hà Nội đang bị khai thác cạn kiệt là võ đoán và không có cơ sở khoa học. Trữ lượng nước ngầm của Hà Nội đủ đáp ứng mọi nhu cầu cấp nước của Thành phố đến những năm 2030 - 2050.

3. Trữ lượng nước ngầm ở phần bờ Bắc sông Hồng hoàn toàn đáp ứng các nhu cầu cấp nước của vùng này khi được đô thị hóa

Kết quả điều tra thăm dò và khai thác sử dụng nguồn nước ngầm trên địa phận TP. Hà Nội suốt hơn 1 thế kỉ qua đã cho thấy, điều kiện ĐCTV ở 2 phần bờ Bắc và Nam sông Hồng thuộc địa phận TP. Hà Nội tương tự nhau và trên toàn lãnh thổ Việt Nam không ở đâu có nguồn nước ngầm có trữ lượng phong phú và dễ dàng khai thác thuận tiện và kinh tế như ở vùng Hà Nội, trong đó trữ lượng (tiềm năng) nước ngầm của chỉ riêng tầng chứa nước cát cuội sỏi (tầng qp) của phần bờ Bắc sông Hồng - sông Đuống là 1.654.000 m3/ngày. Trong khi đó, ở vùng Đông Anh hiện nay mới chỉ xây dựng có 2 NMN khai thác nước ngầm gồm: Đông Anh được xây dựng ở khu vực thị trấn Đông Anh công suất 22.000 m3/ngày và Bắc Thăng Long được xây dựng ở Khu công nghiệp Bắc Thăng Long công suất 50.000 m3/ngày, nhưng chỉ mới khai thác có 37.000 m3/ngày. Nghĩa là, toàn vùng Đông Anh chỉ mới khai thác có 59.000 m3/ngày trong tổng số trữ lượng nước ngầm của vùng này là 1.654.000 m3/ngày, mới chiếm có 0,03% trữ lượng nước ngầm được phép khai thác.

Khi vùng Đông Anh được công nghiệp hóa và đô thị hóa, đầu tiên sẽ là Khu đô thị dọc 2 bên đại lộ Võ Nguyên Giáp từ cầu Nhật Tân đi sân bay Nội Bài, thì chỉ cần khai thác nước ngầm ở dải đất ngoài đê bờ Bắc sông Hồng thuộc địa phận 2 xã Vĩnh Ngọc và Tầm Xá nằm ngay dưới chân cầu đầu bắc cầu Nhật Tân cũng đủ cấp nước cho mọi nhu cầu của Khu đô thị dài hơn 10km này.

Thực tế khai thác nước ngầm ở phần đất đầu Nam cầu Nhật Tân trong hơn 30 năm qua đã cho thấy tính ưu việt của giải pháp khai thác nước ngầm ở những dải đất ven bên bờ sông Hồng. Cụ thể: NMN Yên Phụ với 33 giếng khoan của bãi giếng Nhật Tân đã khai thác được 90.000m3/ngày, nhwng NMN Mai Dịch với 31 giếng khoan chỉ khai thác được có 60.000m3/ngày hoặc cùng với công suất khai thác nước ngầm là 60.000 m3/ngày, nhưng ở NMN Mai Dịch thì mực nước ngầm hạ tới độ sâu - 28,1m, còn ở NMN Cáo Đỉnh chỉ có - 6,12m, chênh nhau tới 22,0m.

Tất cả những điều đó nói lên tính khả thi và độ an toàn, ổn định của việc khai thác sử dụng nguồn nước ngầm tại chỗ, đáp ứng đủ nhu cầu cấp nước của vùng đất Đông Anh khi được công nghiệp hóa và đô thị hóa. Không có giải pháp nào kinh tế hơn, kịp thời hơn và an toàn hơn và có thể tránh được mọi sự cố lún nứt có thể xảy ra trong quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa vùng đất này. Bởi lẽ, quá trình đô thị hóa không thể tiến triển ồ ạt để cùng một lúc cần 1 lượng nước lớn 100.000 - 200.000 m3/ngày để cấp cho các Khu đô thị mới được xây dựng, mà nhu cầu cấp (dùng) nước sẽ tăng lên từ từ theo quá trình phát triển đô thị. Vậy chỉ có khai thác sử dụng nước ngầm mới kinh tế và hợp lý. Nghĩa là, cứ xây dựng dần từng đơn nguyên 30.000m3/ngày từ nguồn nước ngầm trong suốt quá trình phát triển đô thị như đã làm ở phần bờ Nam. Nghĩa là, bắt đầu là 30.000m3/ngày, rồi 60.000m3/ngày và 90.000m3/ngày cho tới 150.000 -180.000m3/ngày. Tính ưu việt này nếu sử dụng nguồn nước mặt (sông Hồng - sông Đuống), thì không làm sao có thể thực hiện được. Bởi lẽ, nếu sử dụng nguồn nước mặt thì phải xây dựng những nhà máy nước có công suất lớn, ít nhất 150.000 - 300.000 m3/ngày mới đạt hiệu quả và kinh tế, giá thành nước sạch mới không cao, nhưng lại không có nơi tiêu thụ cùng một lúc một số lượng lớn nước sạch như vậy sản xuất ra. Nhưng quan trọng hơn cả là không đảm bảo an ninh nước sạch do nguồn nước cấp không đảm bảo.

II. Nhà máy nước Sông Đà có nguồn nước cấp (nước thô) đảm bảo an ninh nước sạch cấp cho thủ đô Hà Nội

Ngay sau những ngày miền Nam được giải phóng, vào cuối những năm 70 của thế kỷ trước tác giả bài viết này đã được giao nhiệm vụ tìm kiếm nguồn nước ngầm ở những khu vực từ Xuân Mai qua Hòa Lạc lên Sơn Tây để phát triển thủ đô Hà Nội về phía Tây dựa vào dãy núi Ba Vì sau khi quốc lộ 21 do Cu Ba giúp xây dựng xong. Kết quả nghiên cứu cho thấy, những vùng này rất nghèo nước ngầm.

Bước vào những năm 90 của thế kỷ trước, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới mở cửa mạnh mẽ và thủ đô Hà Nội có xu hướng mở rộng về phía Tây. Bởi vậy, tác giả đã đề xuất giải pháp “Nguồn nước cấp cho Hà Nội và các vùng phụ cận vào thế kỷ 21” là nước sông Đà, chứ không phải là nước sông Hồng chảy qua giữa lòng Thành phố (Báo Hà Nội mới chủ nhật, ngày 31/3/1996).

Bảy năm sau, ngày 24/9/2003 Phó Thủ tướng thường trực Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký Quyết định số 1285/CP-CT cho phép đầu tư xây dựng “Dự án cấp nước chuỗi đô thị Sơn Tây – Hòa Lạc – Xuân Mai – Miếu Môn – Hà Đông – Hà Nội” do Tổng công ty VINACONEX Bộ Xây dựng làm chủ đầu tư với công suất cấp nước giai đoạn I là 600.000m3/ngày, sau đó được nâng lên 1.200.000m3/ngày.

Năm 2009, giai đoạn I công suất 300.000m3/ngày của NMN sông Đà đã được hoàn thành và người dân ở những khu vực phía Tây thành phố đã được cấp nước sạch. Tuy vậy, trong quá trình khai thác sử dụng, thậm chí ngay từ những năm đầu tiên đã xảy ra sự cố ở 3 hạng mục công trình, gồm: Trạm bơm nước thô lấy nước từ sông Đà, Hồ sơ lắng nước thô và Tuyến đường ống chính dẫn nước sạch để phân phối đi các nơi tiêu thụ. Tất cả các sự cố xảy ra đều do các khâu thiết kế và thi công xây dựng gây nên. Trong đó, sự cố vỡ đường ống dẫn nước sạch là rất nghiêm trọng và hiện tại đã xảy ra đến hơn 30 lần và chắc chắn sẽ vẫn còn xảy ra tiếp nữa nếu không được khắc phục triệt để từ gốc.

Khi xảy ra sự cố vỡ đường ống dẫn nước sạch sông Đà, tác giả bài viết này cùng với 2 đồng nghiệp vơi tư cách là những nhà khoa học và chuyên gia kỹ thuật đã có 40 - 50 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực Địa chất xây dựng - Đất nền và Nước ngầm đã tìm hiểu sự cố và phân tích tìm nguyên nhân. Kết quả phân tích đã được trình bày ở mục “Bàn về sự cố đường ống nước sông Đà” được in trong công trình khoa học chuyên khảo “Đất nền, Nước ngầm và Địa kỹ thuật công trình lãnh thổ Việt Nam” do Nhà xuất bản Xây dựng ấn hành năm 2019 khổ 21x31cm, dày gần 900 trang (ở trang 205-212). Tất cả những sự cố xảy ra ở NMN sông Đà đều là những sai sót về kỹ thuật do nguyên nhân chủ quan gây nên và đều có thể khắc phục được, nhưng đương nhiên là rất tốn kém kinh phí.

Khi xảy ra sự cố vỡ đường ống dẫn nước sạch sông Đà, UBND TP. Hà Nội đã có chủ trương đầu tư xây dựng 1 hệ thống cấp nước sạch số 2 từ NMN sông Đà công suất 600.000m3/ngày để đảm bảo cấp nước sạch cho TP. Hà Nội và khi cần thiết có thể chuyển tải nước sạch sang bờ Bắc sông Hồng.

Tóm lại, xét về nguồn nước thô để sản xuất nước sạch, thì ở vùng Hà Nội sau nguồn nước ngầm chỉ có nguồn nước sông Đà là có độ an toàn đảm bảo an ninh nước sạch cấp cho thủ đô Hà Nội.

 

III. Nhà máy nước sông Đuống không đảm bảo an ninh nước sạch cấp cho thủ đô Hà Nội

Vấn đề xây dựng NMN sử dụng nguồn nước mặt không phải đến những năm gần đây mới được đề cập đến, mà ngay từ giữa những năm 90 của thế kỷ trước tác giả bài viết này đã đề xuất giải pháp sử dụng nguồn nước sông Đà để sản xuất nước sạch cấp cho TP. Hà Nội, trước mắt là những khu vực nằm về phía Tây Thành phố do rất nghèo nguồn nước ngầm, mà không dùng nước sông Hồng chảy qua giữa lòng Thành phố, như đã trình bày ở phần trên.

Tuy vậy, ngày 10/6/2003 tại Tờ trình số 33/TTr-UB, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội vẫn trình Thủ tướng Chính phủ “Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi Dự án xây dựng nhà máy nước mặt” công suất đợt đầu 150.000 m3/ngày và sau này nâng lên 300.000 m3/ngày từ nguồn nước sông Hồng đặt tại xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, Tp. Hà Nội do Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội làm chủ đầu tư và Công ty Nước và Môi trường Việt Nam thuộc Bộ Xây dựng lập Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi.

Về Dự án xây dựng Nhà máy nước mặt này, ngày 24/8/2003 tác giả bài viết này cũng đã có Tờ trình gửi tới Lãnh đạo các cấp của TP. Hà Nội, gồm: Chủ tịch Nguyễn Quốc Triệu và Phó Chủ tịch Đỗ Hoàng Ân, Giám đốc các sở: Kế hoạch và Đầu tư (Nghiêm Xuân Đạt), Giao thông - Công chính (Phạm Quốc Trường), Khoa học và Công nghệ (Lê Trần Lâm), Viện trưởng Viện qui hoạch xây dựng Hà Nội (Văn Tấn Hổ) và Giám đốc Công ty kinh doanh nước sạch Hà Nội - Chủ đầu tư Dự án (Nguyễn Văn Mật), trong đó đã phân tích và kiến nghị không nên xây dựng Nhà máy nước mặt từ nguồn nước sông Hồng đạt tại xã Thượng Cát, huyện Từ Liêm, mà tại đó nên xây dựng một NMN sử dụng nguồn nước ngầm công suất 60.000 m3/ngày như NMN Cáo Đỉnh vừa xây dựng xong. Đến nay, tại xã Thượng Cát, quận Bắc Từ Liêm 1 bãi giếng khai thác nước ngầm công suất 60.000 m3/ngày đã được xây dựng, mà không xây dựng NMN mặt sông Hồng.

Nhưng đến năm 2011, Dự án xây dựng NMN sông Đuống công suất 300.000m3/ngày (đợt I, 150.000m3/ngày) đặt ở bờ Bắc sông Đuống, trên địa phận đất xã cuối cùng của huyện Gia Lâm, TP. Hà Nội do Tổng công ty đầu tư Nước và Môi trường Việt Nam, Bộ Xây dựng làm Chủ đầu tư và Công ty tư vấn xây dựng VINACONEX lập Dự án lại được đệ trình lên UBND thành phố Hà Nội.

Cùng thời gian này, ngày 18/11/2011 UBND thành phố Hà Nội và Bộ Xây dựng đã tổ chức Hội nghị chung thống nhất việc thực hiện Qui hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt sau khi Hà Nội được mở rộng và lập các qui hoạch chuyên ngành, trong đó có qui hoạch tổng thể cấp nước Thủ đô Hà Nội.

Bởi vậy, ngày 02/12/2011 tác giả bài viết này với tư cách là Viện trưởng Viện Công nghệ Nước và Môi trường thuộc Liên hiệp Hội Việt Nam và là một nhà khoa học và chuyên gia kĩ thuật đã có hơn 50 năm kinh nghiệm và nhiều năm liên tục tham gia trực tiếp đóng góp vào điều tra nghiên cứu và khảo sát thăm dò nguồn nước ngầm của Thủ đô Hà Nội đã gửi Tờ trình về “Vấn đề trữ lượng khai thác nước ngầm của Hà Nội và giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội” tới các cấp Lãnh đạo:

- Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội - Nguyễn Thế Thảo

- Bộ trưởng Bộ Xây dựng - Trịnh Đình Dũng

- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường - Nguyễn Minh Quang

- Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam - GS. Đặng Vũ Minh

để tư vấn về 5 vấn đề, trong đó có vấn đề xây dựng NMN sông Đuống rằng, Hà nội không nên xây dựng thêm NMN mặt sông Hồng và sông Đuống. Bởi lẽ, nếu xây dựng thì sẽ không hợp lí cả về kĩ thuật và kinh tế. Cụ thể:

- Phần bờ Nam sông Hồng đã có NMN Sông Đà: Công suất thiết kế đợt đầu 600.000 m3/ngày, sau đó sẽ nâng lên 1.200.000 m3/ngày như đã được phê duyệt. Đã xây dựng 300.000 m3/ngày, hiện mới dùng chưa hết 200.000 m3/ngày. Nguồn nước cấp cho NMN Sông Đà có chất lượng rất tốt, ổn định, không lo sợ bị nhiễm bẩn từ thượng nguồn (Trung Quốc). Nếu cần thiết, có thể chuyển tải nước sạch từ phần bờ Nam sang phần bờ Bắc sông Hồng.

- Nếu xây dựng NMN mặt, thì phải xây dựng ở phần bờ Bắc sông Hồng với công suất cấp nước lớn (từ 300.000m3/ngày trở lên). Nếu thế thì sẽ khó (lâu) hoàn vốn đầu tư và khó lựa chọn được vị trí đặt Nhà máy để thuận tiện cho việc tiêu thụ nước sạch. Do trong 10-20 năm tới tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa vùng Đông Anh vẫn còn chậm và qui mô công nghiệp hóa cũng chưa phát triển, làm cho tốc độ đô thị hóa cũng phát triển chậm theo. Do đó nhu cầu dùng lượng nước sạch cũng tăng không nhiều và chậm.

- Vấn đề an ninh nguồn nước mặt sông Hồng – sông Đuống: Bản chất chất lượng nước sông Hồng (sông Đuống) cũng không tốt (hàm lượng phù sa lớn). Nhưng vấn đề an ninh nguồn nước sông Hồng (sông Đuống) trong những thập niên tới không có cơ sở đảm bảo chắc chắn. Bởi lẽ, Thủ đô Hà Nội nằm ở hạ lưu sông Hồng được bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc. Vậy có ai dám đảm bảo chắc chắn rằng sẽ không xảy ra những sự cố làm ô nhiễm nguồn nước sông Hồng từ phía Trung Quốc, như những sự cố đã từng xảy ra không chỉ có 1 lần, mà đã nhiều lần xảy ra ở sông Tùng Hoa thuộc địa phận vùng Đông Bắc Trung Quốc rồi chảy sang sông Amua trên lãnh thổ nước Nga ở vùng Viễn Đông đến mức 2 nước láng giềng đã phải thương thảo với nhau nhiều lần. Thực tế ở Việt Nam cũng đã từng xảy ra vấn đề này. Nước sông Hồng đoạn chảy qua TP. Lào Cai đầu năm 2011 đã bị ô nhiễm nặng do nước bẩn từ thượng lưu chảy xuống, làm cho nước sông Hồng ở đoạn chảy qua Thành phố có mầu đỏ rực nhiều ngày, mà báo chí và các phương tiện truyền thông cả Trung ương và địa phương đã phải lên tiếng mạnh mẽ nhiều lần trong nhiều ngày.

Sau khi nhận được Tờ trình của Viện Công nghệ Nước & Môi trường và thực hiện nhiệm vụ tư vấn, phản biện của Liên hiệp Hội Việt Nam, ngày 09.3.2012 Liên hiệp Hội Việt Nam đã tổ chức cuộc Hội thảo khoa học với tiêu đề “Trữ lượng khai thác nước ngầm của Hà Nội và giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội” do đích thân GS.TSKH. Đặng Vũ Minh - Chủ tịch Liên hiệp Hội Việt Nam chủ trì Hội thảo.

Cuối buổi Hội thảo, GS.TSKH. Đặng Vũ Minh đã có những kết luận về nội dung cuộc Hội thảo khoa học và những kiến nghị được tất cả các đại biểu tham dự Hội thảo Khoa học nhiệt liệt hoan nghênh.

Sau Hội thảo khoa học, ngày 09/4/2012 tại Văn bản số 212/LHHVN- KHCNMT Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Việt Nam đã Tổng hợp ý kiến tư vấn, phản biện về nước ngầm của Hà Nội và các giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội.

Trong Văn bản tư vấn, Liên hiệp Hội Việt Nam đã trình bày sự lo lắng: “Vậy sau vài chục năm nữa có ai dám khẳng định và đảm bảo chắc chắn rằng nước sông Hồng (sông Đuống) vẫn sạch như ngày nay và sẽ không bị ô nhiễm nặng bởi những nguyên nhân chủ quan và khách quan? Lúc đó sẽ khắc phục bằng cách nào? giải pháp gì ?” và kiến nghị: “Thành phố Hà Nội chưa nên xây dựng NMN sông Hồng và sông Đuống trước những năm 2020 - 2030, mà cần tăng cường sử dụng nguồn nước ngầm chứa trong tầng cuội sỏi qp nằm dọc 2 bên bờ sông Hồng, sông Đuống và Nhà máy nước sông Đà đã xây dựng” và được gửi đến:

- Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

- Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Nguyễn Thế Thảo

- Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Minh Quang

- Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng

Đồng thời Văn bản cũng được gửi đến các cơ quan và tổ chức hữu quan.

Sau khi Văn bản tư vấn phản biện của Liên hiệp Hội Việt Nam gửi đi, ngày 02/5/2011 tại Văn bản số 2973/VPCP-KTN của Văn phòng Chính phủ gửi UBND thành phố Hà Nội thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về việc Tư vấn nguồn nước ngầm và giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội như sau: “Ủy ban nhân dân TP. Hà Nội nghiên cứu ý kiến của Liên hiệp các Hội khoa học và kĩ thuật Việt Nam về nguồn nước ngầm và giải pháp cấp nước cho Thủ đô Hà Nội tại Công văn nêu trên trong quá trình triển khai thực hiện việc cấp nước cho Thủ đô Hà Nội”.

Đồng thời văn bản của Văn phòng Chính phủ cũng được gửi cho các Bộ Xây dựng và Tài nguyên & Môi trường.

Ấy vậy mà cách đây vài năm, UBND TP. Hà Nội đã cho phép Nhà máy nước sông Đuống công suất 300.000m3/ngày được xây dựng tại bờ Bắc sông Đuống trên địa phận xã cuối cùng của huyện Gia Lâm với chủ đầu tư là Doanh nghiệp tư nhân thay cho tổ chức lập Dự án trước đây (năm 2010) là Doanh nghiệp Nhà nước - Tổng Công ty Đầu tư Xây dựng Nước và Môi trường Việt Nam thuộc Bộ Xây dựng.

Việc xây dựng NMN sông Đuống đặt ra những vấn đề sau đây:

1. NMN sông Đuống có công suất lớn (300.000 m3/ngày), nhưng lại đặt ở phần bờ Bắc sông Đuống trên đất xã cuối cùng của huyện Gia Lâm - vùng đất còn lâu mới được đô thị hóa và công nghiệp hóa và sẽ sau mọi vùng ở phần bờ Bắc sông Đuống - sông Hồng. Có nghĩa là, nước sạch sản xuất ra không có đầu ra – không có hộ tiêu thụ nước sạch! Có lẽ vì thế mà chủ đầu tư đã xây dựng đường ống dẫn nước sạch chui ngầm dưới đáy của 2 con sông lớn chảy qua địa phận Hà Nội là sông Đuống và sông Hồng để cấp nước cho những khu vực phía Nam Hà Nội, trong khi nước sạch sông Đà đã được dẫn tới địa phận huyện Thanh Trì, mà vẫn chưa dùng hết công suất đã xây dựng là 300.000 m3/ngày. Tại sao UBND TP. Hà Nội lại cho phép làm việc này?

2. Hiện nay giá nước sạch vẫn chưa được thống nhất giữa Chủ đầu tư và người sử dụng (Hà Nội). Chủ đầu tư đòi giá cao vì vốn đầu tư lớn và sử dụng công nghệ cao xử lí nước nguồn?

3. Khi đường ống nước sông Đà bị vỡ, thành phố Hà Nội đã có chủ trương đầu tư xây dựng Hệ thống cấp nước sạch số 2 công suất 600.000m3/ngày tại NMN Sông Đà để thoả mãn mọi nhu cầu dùng nước của Thành phố trong tương lai. Nhưng đến nay hệ thống này vẫn chưa được xây dựng, mà lại cho phép xây dựng NMN sông Đuống ở nơi không có đầu ra và phải dẫn nước sạch qua sông Đuống và sông Hồng để cấp nước sạch cho những vùng phía Nam TP. Hà Nội, nơi sử dụng nước sạch Sông Đà rẻ hơn và đã có sẵn. Phải chăng là có “lợi ích nhóm” trong vấn đề này?

4. Nhưng quan trọng hơn cả là vấn đề an ninh nước sạch của thủ đô Hà Nội không được đảm bảo. Vấn đề này phải được mọi ngành, mọi cấp quan tâm.

 

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1612
mod_vvisit_counterHôm qua1804
mod_vvisit_counterTuần này9760
mod_vvisit_counterTuần trước18394
mod_vvisit_counterTháng này51811
mod_vvisit_counterTháng trước81246
mod_vvisit_counterTất cả8021830

We have: 22 guests online
IP của bạn là :: 3.228.10.17
 , 
Today: Sep 24, 2020

Liên kết Website



canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search