Tư vấn

Tư vấn

"Rừng vang biển bac", vì sao chưa giàu?

Có "Rừng vàng biển bạc", vì sao Việt Nam chưa giàu?

Tiếng nói trí thức

Thứ hai, 03/2/2014 8:14 GMT+7

 

 

TS Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc chương trình giảng dạy Fulbright cho biết, trên thế giới rất nhiều quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi nhưng không giàu, ngược lại nhiều nước điều kiện tự nhiên chẳng hề thuận lợi nhưng lại giàu. Việt Nam ta là một ví dụ sinh động, dễ thấy. 

Last Updated on Tuesday, 04 February 2014 08:28 Read more...
 

Cải tạo và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản.

Cải tạo và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản

Cải tạo và phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản 
Thứ ba, ngày 24 tháng 12 năm 2013 cập nhật lúc 15:38

  Công nghiệp khai thác mỏ ở nước ta đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mới cả về quy mô và việc áp dụng các công nghệ tiên tiến, góp phần quan trọng vào công cuộc đổi mới đất nước. Tuy vậy, hoạt động khoáng sản đã gây tiêu cực đến môi trường, làm cạn kiệt tài nguyên, gây ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe và an toàn của người lao động. Tuy hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, trong đó có quy định về việc lập, phê duyệt và thực hiện dự án cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản đã ban hành, nhưng các quy định của pháp luật vẫn còn nhiều vấn đề bất cập, cần được bổ sung hoàn thiện. 

Last Updated on Thursday, 26 December 2013 07:48 Read more...
 

bai ve Bauxit _ tư vấn

PGS. TS Nguyễn Khắc Vinh đã có bài viết in trong tài liệu của Hội thảo về hiện trạng và giải pháp trong khai thác bauxit Tây Nguyên do VUSTA và Viện CODE đồng tổ chức ngày 9 tháng 5 năm 2013 tại 53 Nguyễn Du. Xin giới thiệu toàn văn bài viết đó: 

TÀI NGUYÊN VÀ TRỮ LƯỢNG BAUXITE Ở VIỆT NAM VÀ THẾ GIỚI

1.Tài nguyên (Resources) và trữ lượng (Reserves).

Trong hoạt động khoáng sản cần phân biệt rõ tài nguyên và trữ lượng;

Ngày 7 tháng 6 năm 2006 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có quyết định số 06/2006/QĐ – BTNMT ban hành về phân cấp trữ lượng và tài nguyên khoáng sản rắn. Quyết định nêu rõ:

* Tài nguyên khoáng sản rắn là những tích tụ tự nhiên của các khoáng chất rắn bên trong hoặc trên bề mặt vỏ trái đất, có hình thái, số lượng và chất lượng đáp ứng những tiêu chuẩn tối thiểu để có thể khai thác, sử dụng một hoặc một số loại khoáng chất từ các tích tụ này đem lại hiệu quả kinh tế tại thời điểm hiện tại hoặc tương lai. Tài nguyên khoáng sản rắn được chia thành: tài nguyên khoáng sản rắn xác định tài nguyên khoáng sản rắn dự báo.

* Trữ lượng khoáng sản rắn là một phần của tài nguyên khoáng sản rắn xác định đã được thăm dò và việc khai thác, chế biến chúng mang lại hiệu quả kinh tế trong những điều kiện thực tiễn tại thời điểm tính trữ lượng.

BẢNG PHÂN CẤP TRỮ LƯỢNG VÀ TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN RẮN

           Mức độ           nghiên

          cứu địa               chất

Mức độ                                        

hiệu quả

kinh tế

Chắc chắn

Tin cậy

Dự tính

Dự báo

Suy đoán

Phỏng đoán

Có hiệu quả    kinh tế

Trữ lượng 111



 

 

 

 

Trữ lượng 121

k

Trữ lượng  122

k

 

 

Có tiềm năng hiệu quả   kinh tế

 

Tài nguyên 211



 

 

 

Tài nguyên 221

k

Tài nguyên  222

k

 

 

Chưa rõ hiệu quả kinh tế

Tài nguyên 331            

ƒ

Tài nguyên 332             

ƒ

Tài nguyên 333 ƒ         

 

Tài nguyên

  334a   

Tài nguyên

 334b   

 Nghiên cứu khả thi

kNghiên cứu tiền khả năng

ƒ Nghiên cứu khái quát

Luật Khoáng sản số 60/2010/QH12 ngày 17 tháng 11 năm 2010 đã nêu:

 Điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản là hoạt động nghiên cứu, điều tra về cấu trúc thành phần vât chất, lịch sử phát sinh, phát triển vỏ Trái đất và các điều kiện, quy luật sinh khoáng liên quan đến đánh giá tổng quan tiềm năng khoáng sản làm căn cứ khoa học cho việc định hướng hoạt động thăm dò khoáng sản. Như vậy các số liệu về tài nguyên khoáng sản là kết quả của công tác điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản chỉ là căn cứ khoa học cho việc định hướng hoạt động thăm dò khoáng sản

Thăm dò khoáng sản là hoạt động nhằm xác định trữ lượng chất lượng khoáng sản và các thông tin khác phục vụ khai thác khoáng sản.

Như vậy tài nguyên và trữ lượng khoáng sản hoàn toàn khác nhau.

Ở Việt Nam mấy năm qua trên các phương tiện thông tin đại chúng và phát ngôn của một số quan chức thường chỉ dùng khái niệm trữ lượng là không đúng. Thực chất đó chỉ là tài nguyên chứ không phải trữ lượng

  1. 2.Tài nguyên và trữ lượng Bauxite ở Việt Nam

Theo sách Geology and Earth Resources of Việt Nam do Tổng cục Địa chất và Khoáng sản- Bộ Tài nguyên và Môi trường ấn hành tháng năm 2011 thì tài nguyên và trữ lượng Bauxite của Việt Nam như sau:

      Quặng bauxite ở Việt Nam có tài nguyên lớn gồm 2 loại có nguồn gốc khác nhau:

                  a/ Loại bauxite laterit nguồn gốc phong hóa từ đá bazan Neogen tập trung ở 5 tỉnh Tây nguyên với tổng tài nguyên đạt 6,75 tỷ tấn và trữ lượng đạt hơn 2 tỷ tấn.

                  b/ Loại bauxite nguồn gốc trầm tích tuổi Pecmi muộn phân bố ở Cao Bằng, Hà Giang, Lạng Sơn, Hải Dương, Nghệ An. Tà nguyên bauxite ở Cao Bằng là 240 triệu tấn, ở Hà Giang là 60 triệu tấn, ở Lạng Sơn là 50 triệu tấn,

Theo Mineral Commodity Summaries 2013 (Sở Địa chất Mỹ) thì trữ lượng bauxite của Việt Nam là 2,1 tỷ tấn đứng thứ tư trên Thế giới sau Guinea ( 7,4 tỷ tấn), Australia (6 tỷ tấn) và Brazil (2,6 tỷ tấn)

  1. 3.Tài nguyên và trữ kượng bauxite trên thế giới

Theo Sở Địa chất Mý tháng 1 năm 2013 thì Tài nguyên bauxite thế giới khoảng từ 55 đến 75 tỷ tấn được phân bố như sau:

                  * Châu phi                             32%

                  * Châu Đại Dương                23%

                  * Nam Mỹ và Cảibbean       21%

                  * Châu Á                                18%

                  * Các nước khác                   6%

Xem chi tiết ở bảng 1 và bảng 2


Bảng 1. TRỮ LƯỢNG VÀ SẢN LƯỢNG KHAI THÁC BAUXITE TRÊN THẾ GIỚI
                                             
  (tính theo ngàn tấn)

 

Số TT

 

Sản lượng

 

 

Tr lượng

Nước

2011

2012

01

United States

NA

NA

20.000

02

Australia

70.000

73.000

6.000.000

03

Brazil

31.800

34.000

2.600.000

04

China

45.000

48.000

830.000

05

Greece

2.100

2.000

600.000

06

Guinea

17.600

19.000

7.400.000

07

Guyana

1.820

1.850

850.000

08

India

19.000

20.000

900.000

09

Indonesia

37.100

30.000

1.000.000

10

Jamaica

10.200

10.300

2.000.000

11

Kazakhstan

5.500

5.300

160.000

12

Russia

5.890

6.100

200.000

13

Sierra Leone

1.460

1.200

180.000

14

Suriname

4.000

4.200

580.000

15

Venezuela

4.500

4.500

320.000

16

Vietnam

600

300

2.100.000

17

Các nước khác

2.850

3.100

2.100.000

18

Toàn cầu (số làm tròn)

259.000

263.000

28.000.000


Bảng 2. SẢN XUẤT NHÔM KIM LOẠI TRÊN THẾ GIỚI

                          (tính theo ngàn tấn)

 

Số TT

 

Nước

Năm

 

2011

 

 

2012

01

United States

1.986

2.000

02

Argentina

440

455

03

Australia

1.950

1.900

04

Bahrain

881

900

05

Brazil

1.440

1.450

06

Canada

2.980

2.700

07

China

18.100

19.000

08

Germany

433

405

09

Iceland

800

 800

10

India

1.670

1.700

11

Mozambique

 562

 550

12

Norway

1.070

 1.000

13

Qatar

390

585

14

Russia

3.990

4.200

15

South Africa

809

600

16

United Arab Emirates

1.800

1.850

17

Các nước khác

5.100

4.760

18

Toàn cầu (số làm tròn)

 44.400

44.900

Nguồn quặng bauxite dồi dào trên thế giới với tài nguyên đạt 55-75 tỷ tấn, trữ kượng đạt 28 tỷ tấn, sản lượng khai thác hàng năm đạt khoảng 250 triệu tấn thì nguồn quặng bauxite thiên nhiên có thể thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của nhân loại hàng trăm năm nữa.

KẾT LUẬN

  1. 1.Bauxite không phải là loại khoáng sản nóng, thiết yếu mang yếtố cạnh tranh trên thế giới, hàng trăm năm nữa thế giới mới cạn kiệt nguồn quặng này
  2. 2.Bauxite tập trung khá đồng đều ở các châu lục, riêng châu Âu không có bauxite vẫn dễ dàng nhập khẩu bauxite ở các nước khác.
  3. 3.Thị trường bauxite và nhôm kim loại trên thế giới khá ổn định và tăng trưởng khoảng 3% hàng năm
  4. 4.Việt Nam có tài nguyên và trữ lượng bauxite lớn đứng trong tốp 5 thế giới. Tuy nhiên Việt Nam không có lợi thế và các điều kiện cơ sở hạ tầng (thiếu điện, nước, giao thông vận chuyển kém, địa hình Tây Nguyên không thuận lợi cho khai thác, chế biến bauxite một cách an toàn…), điều kiện kinh tế xã hội chưa đảm bảo cho sản xuất, chế biến bauxite ở quy mô lớn…

Do vậy mọi dự án tiếp theo để phát triển khai thác, chế biến bauxite trong nhiều năm  tới sẽ không đạt hiệu quả kinh tế và không hiện thực

PGS. TS Nguyễn Khắc Vinh

Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam

 

Last Updated on Thursday, 09 May 2013 15:21
 

Về điện hạt nhân

CẦN CHUẨN BỊ ĐỦ ĐIỀU KIỆN
ĐỂ XÂY DỰNG NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN 

TRẦN SƠN LÂM - nguyên chuyên viên cao cấp, hàm Vụ trưởng Vụ Khoa giáo - Văn phòng Chính phủ 

1-  Tại sao điện hạt nhân lại không được tiếp nhận mặn mà ở thời điểm hiện tại, thậm chí một  số nước phát triển ở trình độ cao kiên quyết nói “không” với điện hạt nhân

Điện hạt nhân sau một thời gian phát triển mạnh mẽ tại một số quốc gia  đòi hỏi sự tiêu thụ năng lượng to lớn  để thực hiện việc phát triển và hiện đại hoá nền kinh tế nhất là sau sự kiện khủng hoảng dầu mỏ tại kênh đào Su ê Ai cập năm 1960. Nhờ những ưu điểm và hiệu quả, trong giai đoạn trước khi xẩy ra thảm hoạ Chernobyl, điện hạt nhân như là một giải pháp tối ưu để giải bài toán về an ninh năng lượng và bảo đảm môi trường sống tránh khỏi ảnh hưởng của hiệu ứng nhà kính đang làm cho trái đất ngày càng nóng lên và cũng giải bài toán các nguồn năng lượng hoá thạch và dầu mỏ ngày càng cạn kiệt dần.

Sau thảm hoạ Chernobyl, các nước đã xem xét lại chương trình điện hạt nhân của mình, đặc biệt là các  cường quốc về điện hạt nhân là Mỹ, Nga, Pháp  đã chi ra các khoản tiền khổng lồ để hoàn thiện thiết kế và công nghệ để điện hạt nhân không còn là một nỗi nguy hiểm tiềm tàng đối với nhân loại.

Dựa trên các thành tựu mới nhất về khoa học công nghệ, các nhà thiết kế và xây dựng các nhà máy điện hạt nhân, bảo đảm với thiết kế mới điện hạt nhân sẽ được an toàn tuyệt đối trước mọi sự cố.

 Sau 25 năm kể từ khi xẩy ra Thảm họa NMĐHN Chernobyl (ngày 26 tháng tư, năm 1986), từ ngày 11/3/2011 đến ngày 15/3/2011 đã xảy ra thảm hoạ hạt nhân tại Fukushima Nhật bản làm 3 lò phản ứng hạt nhân  số 1, số 3, số 2 bị nổ và  lò phản ứng hạt nhân số 4 bị cháy dữ dội mà nguyên nhân chủ yếu là do động đất và sóng thần.

Theo thông tin trên các phương tiện truyền thông và báo chí:

Sau thảm hoạ hạt nhân Fukushima Nhật Bản, các  nước Đức, Thụy điển, Ý, Bỉ, Thuỵ sĩ   đã  dứt khoát nói  không với điện hạt nhân và dứt khoát tập trung vào chiến lược phát triển các nguồn năng lượng tái tạo và năng lượng sạch như mặt trời, gió …vv.

Nước Nhật, sau thảm hoạ điện hạt nhân, đã cho dừng hoạt động của 3/4 số lò phản ứng hạt nhân trong tổng số 54 lò để kiểm tra và kiên quyết loại bỏ các lò phản ứng hạt nhân có dấu hiệu không an toàn. Thủ tướng mới của Nhật bản, ông Ioshihio Nôđa cũng tuyên bố, sẽ xem xét rất kỹ càng các  nhà máy điện hạt nhân đang được  triển khai xây dựng  và sẽ không có kế hoạch phát triển  thêm các nhà máy điện hạt nhân mới nào tại Nhật bản, tập trung vào phát triển các nguồn năng lượng khác  để trong tương lai việc cung cấp điện tại Nhật Bản không phụ thuộc vào các nhà máy điện hạt nhân. Theo Nhật báo kinh tế của Pháp Les Echos ngày 02/12/2011 có đăng bài báo dài 2 trang phân tích về điện hạt nhân ở Nhật Bản tại thời điểm hiện tại,  ở Nhật chỉ còn 9 nhà máy điện hạt nhân hoạt động với tổng công xuất là 17% ( trước khi xẩy ra sự cố Fukushima con số này sấp xỉ 40%) và đến tháng 4/2012 thì sẽ không còn nhà máy điện hạt nhân nào ở Nhật bản hoạt động. Lý do là các chính quyền địa phương không còn mặn mà với điện hạt nhân và sợ thảm hoạ có thể xẩy ra nên ra lệnh đóng cửa các nhà máy điện hạt nhân tại địa phương mình

Còn tại hai nước Mỹ và Nga, họ đã thiết kế  và hoàn thiện công nghệ để có thể xử lý tất cả các sai sót do lỗi vận hành của con người và do các chi tiết bị hư hỏng nhằm bảo đảm  độ an toàn tuyệt đối cho nhà máy điện hạt nhân khi vận hành, nhưng cũng chủ yếu để xuất khẩu. Tại Mỹ từ lâu chưa có các nhà máy điện hạt nhân mới được xây dựng đưa vào hoạt động  vì vẫn vấp phải thái độ không mặn mà của dân chúng  tại các vùng có ý định xây dựng nhà máy điện hạt nhận. Còn tại nước Nga sau thảm hoạ Chernobyl, điện hạt nhân cũng không còn được phát triển mạnh mẽ như trước, chỉ có vài nhà máy điện hạt nhân mới đang được xây dựng.

Tại Trung quốc,  Theo  Hãng  Reuters đưa tin ngày 16/3/2011:

Tại Cuộc họp của Quốc vụ viện Trung Quốc  Thủ tướng Ôn Gia Bảo chủ trì khẳng định  kế hoạch phát triển điện hạt nhân của Trung Quốc sẽ được rà soát chặt chẽ và  Tuyên bố của Quốc vụ viện Trung Quốc có đoạn: "Chúng tôi sẽ tạm ngừng phê chuẩn thêm các dự án điện hạt nhân, kể cả những dự án đang trong giai đoạn tiền phát triển".

Từ trước tới nay đã xẩy ra 8 sự cố hạt nhân* ( có phần phụ lục dưới đây) có 3 sự cố hạt nhân nghiêm trọng có thể coi là thảm hoạ đối với dân cư và môi trường sống trong một  không gian rộng lớn là Mayak, tại phía Nam Ural, Nga  ngày 29 tháng 9 năm 1957; Thảm họa NMĐHN Chernobyl, ngày 26 tháng tư, năm 1986; thảm hoạ hạt nhân tại Fukushima. Trong số 8 sự cố này 7 sự cố đầu  nguyên nhân chính hoặc là do lỗi thao tác của cán bộ kỹ thuật vận hành, hoặc là các chi tiết máy bị hư hỏng hoặc do lỗi của cả 2 gộp lại

Còn sự cố nổ các lò phản ứng hạt nhân tại Fukushima, tờ báo The Independent là một tờ báo có uy tín, sau khi khảo sát tại hiện trường  và tìm hiểu các nhân chứng đã đưa ra công bố về nguyên nhân chính dẫn tới  vụ nổ một lò phản ứng hạt nhân tại nhà máy Fukushima là do động đất chứ không phải sóng thần vì người ta đã đo được sự phát tán phóng xạ trước khi sóng thần xẩy ra.

Như vậy, ngoài những nguyên nhân do lỗi sai sót của người vận hành và  các chi tiết máy bị hư hỏng, còn nguyên nhân “ngẫu nhiên” nữa đặc biệt đáng lưu ý là do thiên tai mà con người không thể dự báo trước được. Có lẽ chính vì lý do này  mà nước Đức một cường quốc khoa học, kỹ thuật, công nghiệp  có nền kinh tế  lớn thứ tư thế giới, đòi hỏi tiêu thụ một lượng năng lượng khổng lồ kiên quyết nói “không” với điện hạt nhân.

Còn nước Nhật, cường quốc, khoa học công nghệ, có nền kinh tế lớn thứ ba thế giới và cũng là cường quốc về điện hạt nhân,  người dân đã trở nên không còn mặn mà với chương trình phát triển điện hạt nhân vì nước Nhật là nước thường xuyên chịu ảnh hưởng của động dất và sóng thần . 

II-  Năm 2014, đã có đủ điều kiện để triển khai điện hạt nhân chưa?

Trong Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình  đến năm 2020 ban hành năm 2006, đã đề cập và phân tích rất rõ ưu điểm của điện hạt nhân và tình hình sử dụng các nguồn năng lượng của ta phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội sau những năm 2020. Đồng thời Chiến lược cũng chỉ ra những yếu kém về : đội ngũ cán bộ, đội ngũ chuyên gia có đủ trình độ để có thể tham gia với phía đối tác trong quá trình thiết kế, thi công, thẩm định an toàn và tiếp thu công nghệ vận hành nhà máy điện hạt nhân; về cơ sở hạ tầng kỹ thuật của các viện nghiên cứu,  các cơ sở công nghiệp để có thể thực hiện vai trò thanh tra an toàn hạt nhân khi nhà máy đi vào hoạt động và tham gia cùng với phía bạn  trong quá trình thi công xây dựng nhà máy điện hạt nhân.

Năm 2007, Kế hoạch tổng thể để thực hiện chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử nói trên được ban hành nhằm thực hiện các mục tiêu Chiến lược đề ra  và khắc phục các khiếm khuyết đã nêu ở trên.

Tất cả các đề án này phải được xây dựng và được các cấp có thẩm quyền phê duyệt vào cuối năm 2007 và chậm nhất trước 30 tháng 6 năm 2008 nhưng tại thời điểm 30 tháng 6 này  vẫnkhông có đề án nào được xây dựng và được phê duyệt để đưa vào triển khai

Kinh nghiệm cho thấy, việc chuẩn bị và ra quyết sách cho một chủ trương lớn càng thận trọng và  khoa học thì nguy cơ xẩy ra rủi ro là rất nhỏ. Tôi xin nêu một ví dụ:

Năm 2001 chính phủ sau khi xem xét cẩn trọng mọi ý kiến phản biện, đã thay đổi phương án xây dựng Thuỷ điện Sơn La từ cao trình  đập lớn hơn 285m( đã được Hội đồng Chính phủ thông qua vào đầu năm 2000 ) xuống cao trình đập nhỏ hơn 215m. Cho  đến thời điểm hiện nay, càng nhận thấy đây là một quyết định chính xác không những chỉ bảo đảm an toàn môi trường sống mà còn bảo đảm an ninh lãnh thổ vì nếu xây dựng theo phương án cao, một vùng rộng lớn thuộc hai tỉnh Sơn La-Lại Châu  sẽ trở thành một hồ nước rộng mênh mông  sát gần với biên giới phía Bắc.

Một số ý kiến xin góp ý  về  việc triển khai chương trình điện hạt nhân;

*  Cần khảo sát kỹ địa điểm xây dựng nhà máy điện hạt nhân

Để xây dựng nhà máy điện hạt nhân ngoài việc phải tiến hành khảo sát rất kỹ về cấu trúc, nền móng địa chất, phải tiến hành quan trắc môi trường hàng chục năm trước khi đưa nhà máy vào vận hành. Việc quan trắc môi trường để  có cơ sở khoa học đánh giá các biến đổi về môi trường sau khi đưa nhà máy vào hoạt động, vì đây là yếu tố rất cần thiết đặt ra chế độ phòng ngừa an toàn cho nhà máy khi có các dấu hiệu biến đổi của môi trường xung quanh.

Theo các nhà địa chất, Việt Nam là nước nằm trong khu vực chịu ảnh hưởng vành đai núi lửa Thái Bình dương, vì thế cơ quan khoa học liên tục đo được các dư chấn động đất tại các tỉnh vùng miền Trung và Nam bộ.

Theo phát hiện của các nhà địa chất, địa điểm dự kiến xây dựng lại nằm gần đứt gẫy  địa chất vì vậy việc khảo sát cấu trúc địa chất ở vùng này là việc làm vô cùng cần thiết.

Nhà máy ĐHN Ninh thuận đã lựa chọn xong địa điểm (selectionner). Địa điểm đó cần được thẩm tra lại (approuver) trước khi đi vào thiết kế lập dự án chi tiết. Thực tế, xét riêng về mặt cấu tạo địa chất, địa điểm Ninh Thuận chưa  phải là địa điểm an toàn nhất

Xin nêu ví dụ: Năm 2000 Chính phủ đã đồng ý giao cho Cục Địa chất khoáng sản Việt nam đánh giá lại toàn bộ báo cáo cấu trúc địa chất  nền móng tại  thuỷ điện Sơn La của chủ đầu tư, và chính một phần dựa trên báo cáo địa chất của cục Địa chất, Chính phủ đã thông qua quyết định chuyển đổi cao trình của đập như đã nói ở trên

* Về ảnh hưởng của của môi trường địa lý với khí hậu nóng, ẩm , độ mặn của nước biển rất cao khác hẳn với môi trường địa lý của các vùng biển Nhất bản nơi có các nhà máy điện hạt nhân đang hoạt động.

Nhà máy điện hạt nhân là một tổ hợp thiết bị bao gồm lò phản ứng hạt nhân, hệ thống nước làm mát lò phản ứng, hệ thống máy phát điện, hệ thống đo lường điện tử cảnh báo an toàn và hệ thống điều khiển tự động để điều hành tổng thể nhà máy điện. Khí hậu Việt nam thuộc vùng nhiệt đới có độ ẩm ướt và khô hanh thất thường, tần xuất biến đổi về khí hậu rất lớn  nên vật liệu để chế tạo các chi tiết của lò phản ứng cũng như các chi tiết, thiết bị của các hệ thống trên cũng phải nghiên cứu để nhiệt đới hoá. Vùng  biển để xây dựng nhà máy điện hạt nhân có độ mặn rất lớn, độ  mặn lớn cùng với môi trường khắc nghiệt của vùng nhiệt đới rất dễ làm biến đổi chất lượng của các vật liệu, gây ra mức độ ô xy hoá cao,  với tốc độ biến đổi chất lượng này, vật liệu này có thể dễ bị cong, vênh, rạn nứt và chỉ cần một trận động đất cũng có thể phá vỡ hệ thống làm mát lò phản ứng như đã xẩy ra đối với nhà máy điện hạt nhân ở Fukushima ( như Tờ Independent đã đưa tin).

Kinh nghiệm 40 năm về tư vấn ĐHN của Pháp vẫn không tránh được hết nhưng sơ suất nhỏ khi xuất khẩu công nghệ ra nước ngoài. Lấy ví dụ khi tư vấn cho nhà máy ĐHN tại Hàn quốc, do không nghiên cứu kỹ nhiệt độ nước biển và môi trường sinh vật tại điểm thải nước làm mát, nên chỉ sau một thời gian đưa nhà máy vào hoạt động, loài sứa biển sống  xung quanh khu vực này phát triển rất nhanh, nhiều và có kích thước rất lớn, lớn đến mức làm ảnh hưởng đến lưu lượng nước thoát , và phải sử lý.

*  Về lựa chọn công nghệ điện hạt nhân.

Nói đến điện hạt nhân là phải kể đến 3 cường quốc hàng đầu về thiết kế, chế tạo, về số lượng các nhà máy điện hạt nhân đã được xây dựng vận hành ở trong nước và xuất khẩu  ra nước ngoài đó là Mỹ, Pháp, Liên Xô cũ nay là Nga. Các nước Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc là các nước nhập khẩu  công nghệ nhà máy điện hạt nhân từ các nước trên.

Việc lựa chọn công nghệ điện hạt nhân có liên quan đến chương trình phát triển điện hạt nhân vì thế việc lựa chọn này cần phải cân nhắc hết sức thận trọng trên cơ sở đánh giá hết sức khách quan, khoa học của các chuyên gia Việt Nam về kinh nghiệm vận hành, xử lý sự cố và khả năng cung cấp nhiên liệu hạt nhân, các trang thiết bị thay thế của các đối tác mà ta nhận chuyển giao, cũng như khả năng chuyển giao công nghệ cho Việt Nam để ta có khả năng nội địa hoá từng phần như Hàn Quốc đã làm. Đây là vấn đề liên quan đến khả năng vận hành và hoạt động của nhà máy điện hạt nhân mà không phụ thuộc tình hình nóng lạnh của mối quan hệ nhà nước, vì nhà máy điện hạt nhân có tuổi thọ trung bình trên 30 năm và  các mẫu thiết kế mới nhất tuổi thọ của nhà máy có thể lên tới 50-60 năm.

Nhà máy điện hạt nhân mà Nga định chuyển giao cho ta là loại lò mới nhất có kết hợp với các thành tựu về công nghệ thiết kết chế tạo các thiết bị đi kèm của các nước Mỹ, Pháp, Đức. Vì vậy trong nhà máy điện hạt nhân mà Nga dự định xây dựng ở Việt Nam có nhiều chi tiết, cụm chi tiết, thiết bị mà Nga phải nhập của  nước ngoài, khi xẩy ra một sự cố hỏng hóc đối với các loại chi tiết, thiết bị này việc thay thế sẽ gập khó khăn.

Mặc dù Nhật đã thiết kế, chế tạo và xây dựng nhiều nhà máy điện hạt nhân trên đất Nhật nhưng cho đến thời điểm này Nhật vẫn chưa xuất khẩu được nhà máy điện hạt nhân ra nước ngoài, lý do vì sao ta cũng cần tìm hiểu rõ về ưu nhược điểm của các nhà máy điện hạt nhân của Nhật với các nhà máy điện hạt nhân của Nga, Pháp, Mỹ để lường trước mọi vấn đề trong ký kết hợp đồng.

Kinh nghiệm việc xây dựng nhà máy lọc dầu Dung Quất cho thấy nhà máy lọc dầu vừa mới vận hành chưa được một tháng đã phải dừng vận hành hàng tháng để thay thế chi tiết máy bị hư hỏng và sau đó lại phải dừng để bảo dưỡng và nâng cấp. Nếu chúng ta tính toán sơ bộ, việc xây dựng khu lọc dầu Dung quất ta phải vay khoảng gần 2 tỷ USD với lãi xuất vay thương mại khoảng trên dưới 3% năm thì một tháng ta phải trả lãi khoảng 5 triệu USD  đó là chưa kể đến tiền lương và tất cả các khoản tiền khác để duy trì hoạt động của nhà máy chưa đưa vào sản xuất.

Để xây dựng nhà máy điện hạt nhân có công xuất 1000MW, dự kiến kinh phí ta phải vay theo lãi xuất thương mại là trên dưới 5 tỷ USD ( theo quy định của Quốc tế không dùng vốn ODA để xây dựng nhà máy Điện hạt nhân), với lãi xuất trên dưới 3% năm, sau khi tiếp nhận, nếu xẩy ra một sự cố cần khắc phục và phải thay thế một cụm chi tiết nào đấy, chỉ cần dừng hoạt động một tháng, tương tự cách tính trên, một tháng ta cũng phải trả lãi cho khoản vay trên khoảng 12,5 triệu USD chưa kể phải trả tiền lương cho công nhân và chuyên gia để bảo hành và duy trì nhà máy.

Vấn đề nhiên liệu cho nhà máy điện hạt nhân:

Theo tính toán của các nhà khoa học trữ lượng của các mỏ Uranitrên thế giới cũng đang cạn kiệt dần và chỉ đủ dùng cho các nhà máy điện hạt nhân trong vòng 50-60 năm nữa nếu không tái tạo được nhiên liệu hạt nhân đã qua sử dụng. Trên thực tế xuất đầu tư cho nhà máy nhiệt điện chạy dầu thấp hơn rất nhiều so với nhà máy điện hạt nhân cùng công xuất. Nhưng lợi điểm của điện hạt nhân là tuổi thọ của nhà máy dài, có thể dự trữ được nhiên liệu và xuất tiêu hao  nhiên liệu thấp. Còn nhà máy nhiệt điện chạy dầu thì không dự trữ được một lượng lớn nhiên liệu dẫn đến giá thành điện luôn phụ thuộc vào sự thăng giáng của thị trường. Chi phí  tháo dỡ nhà máy điện hạt nhân và chôn các chất thải phóng xạ lại rất cao so với tháo dỡ nhà máy nhiệt điện.

Việc mua các nhiên liệu dầu, khí đốt, than đá  dễ dàng hơn mua  nhiên liệu hạt nhân vì bị hạn chế bới hiệp ước chống phổ biến vũ khí hạt nhân, không phải cứ có tiền muốn mua bao nhiêu cũng đượcBản thân Nhật Bản vẫn phải nhập nguyên liệu Urani từ các nước khác về để chế tạo thành nhiên liệu hạt nhân sử dụng cho các nhà máy điện hạt nhân của mình, vì vậy việc cung cấp nhiên liệu của Nhật bản cho nhà máy điện hạt nhân dự  định xây dựng tại Việt Nam và nhận lại các thanh niên liệu đã sử dụng cũng là một vấn đề cần đặt ra.

Thực tế trên thế giới chỉ  Mỹ, Nga, Pháp vừa sở hữu công nghệ điện hạt nhân vừa có công nghệ chế tạo nhiên liệu hạt nhân và chỉ những nước này mới có quyền chuyển giao các công nghệ này.

Sở dĩ Nhật và Hàn quốc phát triển mạnh được chương trình ĐHN vì hai nước này là đồng minh chiến lược mật thiết của Mỹ, họ đã nhận được sự ủng hộ của Mỹ và Pháp trong việc nhận chuyển giao công nghệ điện hạt nhân và công nghệ chế tạo nhiên liệu hạt nhân .

Khi ta đã xây dựng xong và đưa các nhà máy điện hạt nhân vào hoạt động,  việc tính toán để nội địa hoá nhiên liệu hạt nhân cần phải đặt ra ngay từ lúc này vì ta có một thuận lợi là theo khảo sát, thăm dò  và đánh giá địa chất , mỏ Urani tại Nông Sơn Quảng Nam có thể đạt tới  khoảng 8000tấn ­U­Ocấp 122. Vì vậy chúng ta cũng cần tìm một đối tác  vừa có khả năng chuyển giao cho ta công nghệ chế tạo nhiên liệu hạt nhân cùng với chuyển giao công nghệ điện hạt nhân. Vấn đề này đã được đặt ra trong tầm nhìn của Chiến lược, tránh để  ta bị lệ thuộc.

*  Về nguồn nhân lực kỹ thuật

Cho đến thời điểm này ngoài việc gửi một số học sinh đi đào tạo tại Nga và Nhật bản về điện hạt nhân, việc chuẩn bị  các nguồn lực có liên quan trực tiếp đến việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân vẫn chưa có tiến triển gì đáng kể hay nói một cách khác vẫn ở trong tình trạng yếu kếm như đã nêu trong chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử.

Một số sinh viên đã tốt nghiệp về Vật lý điện hạt nhân( ĐHN) tại Việt nam trong thời gian gần đây không tìm được việc làm đúng chuyên môn được đào tạo và thậm chí học sinh không có khuynh hướng làm cho nhà máy điện hạt nhân vì không muốn đi xa các trung tâm như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và với đồng lương thấp nếu theo thang lương hiện hành

Ban Quản lý dự án ĐHN Ninh Thuận của EVN gồm khoảng 80 người, song số người được đào tạo chuyên ngành về ĐHN chỉ đếm trên đầu ngón tay.

Một kịch bản  là nếu ta chưa đủ khả năng vận hành kể từ thời điểm chìa khoá trao tay, để vận hành nhà máy ta phải thuê tối thiểu khoảng từ 700 đến 1000 cán bộ  kỹ thuật, lương bình quân của mỗi người là 7000USD thì tổng tiền lương phải chi trả hàng tháng  sẽ là 4.900.000USD đến 7.000.000USD ( tính ra tiến Việt nam ở thời điểm hiện tại là khoảng 100 tỷ đến gần 150 tỷ) và hàng năm lên tới hơn một nghìn tỷ, việc  này sẽ đội giá thành điện lên rất cao.

Năm 2010, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập ban Chỉ đạo xây dựng nhà máy điện hạt nhân bao gồm lãnh đạo một số bộ ngành có liên quan do Phó Thủ tướng Hoàng Trung hải là trưởng ban. Nhưng chương trình đào tạo và phát triển tiềm lực khoa học công nghệ hỗ trợ, pháp lý lại thuộc lĩnh vực của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân. Trong danh sách ban chỉ đạo hầu như toàn bộ là cán bộ quản lý, không có các cán bộ chuyên môn thuộc lĩnh vực này, đây cũng là một vấn đề cần xem lại.

Kinh nghiệm của các nước Mỹ, Nga, Pháp, Nhật bản, Hàn quốc, Trung quốc khi xây dựng nhà máy điện hạt nhân, lãnh đạo cấp cao nhất thường lựa chọn một chuyên gia với tư cách là một tổng công trình sư để tập trung đội ngũ chuyên gia xây dựng đề án, từ lựa chọn công nghệ đến tất cả các khâu chuẩn bị và  một nhà quản lý  cấp cao chịu trách nhiệm trực tiếp với Tổng thống hoặc Thủ tướng  để lo phối hợp giữa các bộ, ngành, cơ quan có liên quan  triển khai Đề án .

Kinh nghiệm cho thấy, vì thiếu sự chỉ đạo thống nhất nên sản phẩm bốc xít hiện nay vẫn chưa tìm được giải pháp  chuyên chở về nơi tập kết để xuất khẩu ra nước ngoài mặc dù vấn đề này đã được các nhà khoa học cảnh báo từ rất sớm.

Cần hết sức chú trọng đến văn hoá an toàn

Xây dựng nhà máy điện hạt nhân cần phải có đủ tri thức, hạ tầng kỹ thuật và sự thận trọng và kỷ luật hành chính nghiêm khắc.  Sự cố hạt nhân có thể  không xẩy ra ở thời điểm mới đưa vào vận hành  và sau hàng chục năm vận hành, nhưng sau vài chục năm thì không chắc chắn vì  chất lượng của các vật liệu cấu thành nhà máy điện hạt nhân có thể bị biến đổi, nhất là trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt của VN.

Cũng như  người  Nhật chưa bao giờ nghĩ  sự cố ở Fukushima lại có thể xẩy  ra vì họ đã lường trước trong thiết kế tất cả các kịch bản an toàn và mọi cách thức để xử lý sự cố kể cả động đất và sóng thần, nhưng đã không lường được  thiên tai ngày 11/3/2011 gây nên thảm hoạ hạt nhân nghiêm trọng tại Fukushuma.

Với công việc chuẩn bị xây dựng nhà máy điện hạt nhân đang tiến triển chậm chạp như hiện nay, việc triển khai xây dựng nhà máy điện hạt nhân vào năm 2014 sẽ là một sự vội vã.

Chúng ta hãy thử hình dung một sự cố nào đó xẩy ra với nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận do động đất và sóng thần, đất nước ta sẽ bị chia cắt làm đôi, mọi phương tiện đi lại trên đường bộ của ta sẽ bị đứt đoạn và đó sẽ là thảm hoạ đối với đất nước vì sự cố hạt nhân không thể khắc phục trong một thời gian ngắn.

Việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân cần hết sức tránh tư duy  văn hoá nhiệm kỳ và phó thác hoàn toàn về mặt công nghệ cho đối tác nước ngoài theo tư duy chìa khoá trao tay.

Văn hoá an toàn hạt nhân đề cao sự ủng hộ của dân chúng, trước khi triển khai  xây dựng nhà máy điện hạt nhân các cấp chính quyền cần  cung cấp cho toàn bộ người dân biết các công việc đã chuẩn bị  căn cứ theo các văn bản đã ban hành và thăm dò ý kiến của nhân dân cả nước để tạo nên sự đồng thuận rộng lớn.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

ẩT
Last Updated on Monday, 17 February 2014 13:23
 

lý giải về hố sụt

LÝ GIẢI VỀ HỐ SỤT Ở MỘ ĐỨC, QUẢNG NGÃI

Lê Huy Y ( UVBCH Tổng hội Địa chất)

Sự việc xảy ra vào sáng ngày 24.9 tại tổ dân phố số 3, thị trấn Mộ Đức, huyện Mộ Đức. Qua thăm dò, chiều sâu của hố hơn 8m và rộng trên 10m, đe dọa đến sự an nguy của 25 hộ dân. Sau ngày 29/9, chính quyền địa phương đã dùng 54m3 cát để lấp đầy hố sụt trên.

Theo quy mô và chiều sâu hố sụt, có thể loại bỏ nguyên nhân “ nhân tạo” của hố. Nếu tại hố hoặc gần miệng hố tìm thấy dấu vết của đá ong, các tảng đá cuội, sỏi ruồi bị cháy hoặc ngậm sắt (trên mặt đất hoặc trong các giếng nước của dân), có thể khẳng định đây là một miệng núi lửa cổ. Núi lửa này có thể hoạt động nhiều triệu năm về trước ( không quá vài chục triệu năm). Trong lòng họng núi lửa luôn lấp đầy bởi dăm, cuội, dung nham núi lửa, nhiều quặng kim loại, khoáng vật nặng, v.v.

Có 2 nguyên nhân để họng núi lửa này tạo thành hố sụt như ở Mộ Đức, và gần đây là ở Phú Thọ:

1. Sau khi phun trào, dung nham magma trong họng núi lửa bị phong hoá. Trong điều kiện giàu nước (luôn có với họng núi lửa), thành phần dung nham bị kaolinit hoá thành sét, bùn chứa kaolin, dăm, cuội cỏi và quặng.  Bùn, sét kaolin có tỷ trọng lớn (khoảng 3,0 – 3,1 g/cm3) nặng hơn đất đá vây quanh ( thường dưới 2,7g/cm3), độ nhớt cao nên dễ phân tán vào các đứt gẫy, khe nứt của đá vây quanh và chìm dần xuống dưới để lại các giếng đứng rỗng chứa nước ngầm. Đến một lúc, hoặc dưới tác dụng của cơ học, nước mưa, v.v. nóc giếng sẽ sập xuống tạo nên các hố tử thần.

2. Họng núi lửa và các đứt gẫy rất nhạy cảm với các chấn động của vỏ quả đất nên khi có sự tái hoạt động của các khối xâm nhập nông á núi lửa ở khu vực đó sẽ gây nên động đất nhẹ ( Động đất cấp 1, 2) thì con người không thể cảm nhận được, nhưng các đứt gẫy và họng núi lửa vẫn bị tác động đáng kể, gây ra các rung động, sụt lún mạnh.

Một số cư dân địa phương đòi làm rõ nguyên nhân hố sụt mới được lấp  cát là rất khoa học. Nhưng hiện nay, về địa chất luôn có tình trạng 9 người mười ý, khó mà đợi tìm được nguyên nhân thật của hố sụt.

Việc dùng cát để lấp ngay hố sụt ở Mộ Đức là tối ưu để đảm bảo an toàn cho người và nhà cửa. Nên xây dựng một sân beton cốt thép có kích thước 15 – 20 m mỗi cạnh, trùm lên hố sụt, có chiều dày thích hợp để đảm bảo cho an toàn của xe và người trong khu vực. Cần để 1 giếng nhỏ có nắp đậy để quan sát sự biến đổi của hố và bổ xung thêm cát khi cần.

Về lâu dài,theo tôi, nên bảo quản giếng này, vì đây sẽ là nguồn cấp nước ngầm nguồn gốc sâu có lưu lượng ổn định nhiều trăm m3/ngày với chất lượng tốt phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất của cư dân địa phương khi cần.

Có thể còn tìm thêm được một số họng núi lửa kiểu này ở Mộ Đức nói riêng, và ở Quảng Ngãi nói chung. Trước năm 2000, khi thăm dò và xây dựng 3 giếng khoan cho vùng kinh tế Dung Quất (thuộc huyện Bình Sơn – Quảng Ngãi), chúng tôi cũng đã phát hiện nhiều họng núi lửa và đứt gẫy ở đây.

Việc phát hiện thêm các họng núi lửa cổ chưa bị sập thành hố tử thần ( theo tôi, nên gọi là giếng Trời) là cần thiết và dễ làm nếu biết quy luật phân bố và biết đúng các dấu hiệu địa chất, địa vật lý của chúng.  Mục đích của việc làm này là để không xây dựng các công trình quan trọng như nhà máy điện hạt nhân, ống khói nhà máy, đường ống dẫn dầu, hơi đốt, kể cả các nhà ở lên chính giữa các họng núi lửa cổ và phạm vi các đứt gẫy, bởi vì chúng rất nhạy cảm với các vận động, dù là nhỏ, của các khối xâm nhập nông á núi lửa dưới lòng đất./.

Hà Nội, ngày 11 tháng 10 năm 2011

Last Updated on Friday, 14 October 2011 03:10
 


Page 75 of 76

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay528
mod_vvisit_counterHôm qua879
mod_vvisit_counterTuần này4265
mod_vvisit_counterTuần trước8661
mod_vvisit_counterTháng này17212
mod_vvisit_counterTháng trước28730
mod_vvisit_counterTất cả6477614

We have: 71 guests online
IP của bạn là :: 54.224.75.202
 , 
Today: Aug 17, 2017

Liên kết Website



canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search