Phổ Biến Kiến Thức

Địa dư toàn đồ _ Bản dịch

GIỚI THIỆU BẢN ĐỒ NHÀ THANH NĂM 1904

Hiện Bảo tàng lịch sử Quốc gia đang trưng bày tấm bản đồ của nhà Thanh in năm 1904. Nếu các vị chưa có điều kiện đến tham quan Bảo tàng xin  tạm xem tấm bản đồ này do chúng tôi chụp làm tư liệu để đưa lên trang Web của Tổng hội Địa chất Việt Nam

diadutoando

Có thể đọc được chú giải ở bản dịch sau

ĐỊA DƯ TOÀN ĐỒ CÁC TỈNH CỦA TRIỀU ĐÌNH NHÀ THANH

Bản dịch:

Lời bàn về Địa vực rằng : Tiêu Hà thu lượm được Đỗ tịch của nhà Tần, nên người nhà Hán mới có cái Đại quát về địa dư. Đất đai hỗn tạp, nên thiết kế dư đồ không chia tỉ lệ, lại không khảo chính theo mực chuẩn, hoặc có người bảo đó là lời nói viển vông quái đản không đúng sự thực. Xem đó cũng biết thời cổ đã có địa dư đồ, nhưng không đo đắc dụng cho việc trắc địa thẩm hình nên luôn áy náy không yên. Kẻ chê bản đồ đời sau không phải là người thừa kế, kinh vĩ bất thường tránh sao khỏi sót lời, nhỡ lẽ,

Nhưng muốn biết sự tinh vi của miền đất rộng lớn, phi vốn học thức thông thiên văn, suy tính tạm ngưng thì không thể suy tưởng về trước, từ khi uy thanh của Trung Quốc truyền lan tới các giáo sĩ thiên chúa giáo ở Tây Hải: Lợi Mã Đẩu, Thang Nhược Vọng, Nam Hoài Nhân vượt trùng dương tới Trung Hoa truyền đạo.

Năm Mậu Tý Khang Hy 47 (1708) đời vua Thanh Thánh Tổ Hoàng Đế. Thánh Tổ nhà Thanh tuyên phái các giáo sĩ Bạch Tấn Lôi Thiếu, Tư đồ Đức Mỹ, chế tác Vạn lý Thành đô, sau hơn một năm (1710) thì công việc hoàn thành. Vua vui mừng, lại xuống chiếu cho (giáo sĩ) Phan Như Lôi hiếu, Tư đồ Đức Mỹ vẽ bản đồ Mạch đại thành (Bản đồ của hai tỉnh Trực Hệ và Sơn Đông ).

Đến năm Tân Mão Khang Hy 50 (1711), vua sai các giáo sĩ tới khắp 13 tỉnh đo lường đất đai tạo bản đồ Mạch đại "Thành thang chuộng hiển", đi về các tỉnh Thiểm Tây, Sơn Tây, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây, Phùng Bính, Chính Đức, Mã Nại đi về các tỉnh Hà Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến, Giang Nam, Phi Ấn , Hòa Phan Như đi về các tỉnh Vân Nam, Tứ Xuyên, Quí Châu, Hồ Quảng. Trải qua một năm bốn lần đọc duyệt. qui mô bắt đầu định hình. Các giáo sĩ đều được triệu tập về kinh đô để họ múa bút vẽ họa, sau hai năm công việc cáo thành với bức toàn đồ 15 tỉnh, tấu trình lên vua ngự lãm. Ngài vui khuyến khích bằng nghi lễ long trọng. Từ đây các nhân sĩ Trung Hoa và phương Tây sưu tập khảo cứu các dự đồ Trung Quốc. Đại để là gia cố bồi tập thêm từ các nguyên cáo của các giáo sĩ đã soạn thảo trước đây. Ta không do dự về kiến văn cổ lậu nông cạn của mình để mô tả bức họa này lại không dám tự khoe rằng chỉ một mình có nhiều công hơn cả tiện nhân. Duy về công việc của các thôn, ấp, quận, huyện ở các tỉnh đã có thay đổi đôi chút, cho nên xem chỗ nào thiếu thì bổ xung, chỗ nào nhầm lẫn thì đính chính sửa sang, làm bớt sai suyển và làm sáng sủa hơn lên để khi nhìn vào đó thấy rõ ràng như nhìn vào lòng bàn tay, tại các cửa biển duyên hải đều phóng họa các đường thủy tàu thuyền ra khơi vào cảng. Tự hỏi nếu mắc một lỗi thì lấy gì bù đắp đầy đủ cho cách nhìn của van con mắt. Nhưng nếu có tri thức tất nói được lời nói gần chung thiên ý với mọi người.

Mùa xuân năm Quang Tự nhà Thanh Giáp Thìn (1904). Giám đốc ( chủ biên ) đài thiên văn ở Dư Sơn Sài Thượng chất chép.

 Văn phòng Tổng hội Địa chất Việt Nam

Last Updated on Friday, 31 August 2012 03:44
 

Báo cáo về Đất hiếm

TỔNG QUAN VỀ ĐẤT HIẾM Ở VIỆT NAM

Bùi Tất Hợp - Cục Kinh tế Địa chất và Khoáng sản
Trịnh Đình Huấn - Liên đoàn Địa chất xạ - hiếm

Tóm tắt: Những kết quả điều tra, đánh giá, thăm dò từ những năm 1950 đến nay đã khẳng định Việt Nam là quốc gia có tiềm năng lớn về đất hiếm. Các mỏ đất hiếm ở Việt Nam có quy mô từ trung bình đến lớn, chủ yếu là đất hiếm nhóm nhẹ (nhóm lantan - ceri), có nguồn gốc nhiệt dịch và tập trung ở vùng Tây Bắc Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển thành một cụm công nghiệp khai thác, chế biến đất hiếm trong tương lai. Với nhu cầu sử dụng đất hiếm trên thế giới ngày càng tăng, đặc biệt hiện nay Trung Quốc (nước cung cấp 95% đất hiếm cho thị trường thế giới) bắt đầu thực hiện chính sách dự trữ tài nguyên khoáng sản thì thị trường đất hiếm thế giới trở nên sôi động. Vì vậy, công tác điều tra, đánh giá và thăm dò đất hiếm cũng như nghiên cứu chính sách đầu tư khai thác, chế biến, xuất khẩu đất hiếm hiện nay cần được đặc biệt quan tâm.

1. Khái quát chung về đất hiếm
1.1. Đặc điểm địa hóa - khoáng vật

Đất hiếm là nhóm gồm 15 nguyên tố giống nhau về mặt hóa học trong bảng hệ thống tuần hoàn Mendeleev và được gọi chung là lantan, gồm các nguyên tố có số thứ tự từ 57 (lantan) đến số thứ tự 71 (lutexi). Thông thường ytri (số thứ tự 39) và scandi (số thứ tự 21) cũng được xếp vào nhóm đất hiếm vì trong tự nhiên nó luôn đi cùng các nguyên tố này. Các nguyên tố đất hiếm và đặc tính cơ bản của đất hiếm được thống kê ở bảng 1.

Bảng 1. Các nguyên tố đất hiếm và các đặc tính cơ bản

TT

Nguyên tố

Ký hiệu hoá học

Thứ tự nguyên tử

Hoá trị

Nguyên tử

lượng

HLTB

trong vỏ trái đất (ppm)

Các oxyt

1

Lantan

La

57

3

138,92

29,00

La2O3

2

Ceri

Ce

58

3,4

140,13

60,00

CeO2

3

Prazeodim

Pr

59

3,4

140,92

9,00

Pr4O11

4

Neodim

Nd

60

3

144,27

37,00

Nd2O3

5

Prometi

Pm

61

3

145,00

-

Không

6

Samari

Sm

62

2,3

150,43

8,00

Sm2O3

7

Europi

Eu

63

2,3

152,00

1,30

Eu2O3

8

Gadoloni

Gd

64

3

156,90

8,00

Gd2O3

9

Tecbi

Tb

65

3,4

159,20

2,50

Tb4O7

10

Dysprosi

Dy

66

3

162,46

5,00

Dy2O3

11

Honmi

Ho

67

3

164,94

1,70

Ho2O3

12

Erbi

Er

68

3

167,20

3,00

Er2O3

13

Tuli

Tm

69

3

169,40

0,50

Tm2O3

14

Ytecbi

Yb

70

2,3

173,04

0,33

Yb2O3

15

Lutexi

Lu

71

3

174,99

0,50

Lu2O3

16

Ytri

Y

39

3

88,92

29,00

Y2O3

17

Scandi

Sc

21

3

59,72

-

Sc2O3

Trong công nghệ tuyển khoáng, các nguyên tố đất hiếm được phân thành hai nhóm: nhóm nhẹ và nhóm nặng hay còn gọi là nhóm lantan-ceri và nhóm ytri. Trong một số trường hợp, đặc biệt là kỹ thuật tách triết, các nguyên tố đất hiếm được chia ra ba nhóm: nhóm nhẹ, nhóm trung gian và nhóm nặng (xem bảng 2).

Bảng 2. Phân nhóm các nguyên tố đất hiếm

La

Ce

Pr

Nd

Pm

Sm

Eu

Gd

Tb

Dy

Ho

Er

Tm

Yb

Lu

Y

Nhóm nhẹ (nhóm lantan ceri)

Nhóm nặng (nhóm ytri)

Nhóm nhẹ

Nhóm trung

Nhóm nặng

Thực tế các nguyên tố hiếm này không hiếm trên trái đất (hình 1). Theo Cục Khảo sát Địa chất Liên bang Mỹ - USGS: Fact Sheet 087-02, 2002, hàm lượng trung bình của ceri (Ce=60ppm) cao hơn hàm lượng trung bình của đồng (Cu=50ppm), ngay cả như lutexi (có hàm lượng trung bình trên trái đất ít nhất trong nhóm đất hiếm) cũng có hàm lượng trung bình cao hơn antimon (Sb), bismut (Bi), cacdimi (Cd) và thali (Tl).

Hình 1. Sự phân bố của các nguyên tố trong vỏ trái đất

Hiện nay đã biết khoảng 250 khoáng vật chứa đất hiếm, trong đó có trên 60 khoáng vật chứa từ 5 ÷ 8% đất hiếm trở lên và chúng được chia thành hai nhóm:

- Nhóm thứ nhất: gồm các khoáng vật chứa ít đất hiếm, có thể thu hồi như một sản phẩm đi kèm trong quá trình khai thác và tuyển quặng.

- Nhóm thứ hai: gồm các khoáng vật giàu đất hiếm có thể sử dụng trực tiếp như sản phẩm hỗn hợp đất hiếm.

Theo thành phần hoá học, các khoáng vật đất hiếm được chia thành 9 nhóm:

1. Fluorur: yttofluorit, gagarunit và fluoserit.

2. Carbonat và fluocarbonat: bastnezit, parizit, ancylit, hoanghit

3. Phosphat: monazit, xenotim

4. Silicat: gadolinit, britholit, thortveibit

5. Oxyt: ferguxonit, esinit, euxenit

6. Arsenat: checrolit

7. Borat: braitschit

8. Sulfat: chukhrolit

9. Vanadat: vakefieldit

Trong 9 nhóm trên, 5 nhóm đầu là quan trọng nhất, đặc biệt là nhóm fluocarbonat, phosphat và oxyt. Trong đó, các khoáng vật bastnezit, monazit, xenotim và gadolinit luôn được xem là những khoáng vật quan trọng.

1.2. Lĩnh vực sử dụng

Các sản phẩm của đất hiếm được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp, nông nghiệp, y học,… Những lĩnh vực sử dụng chính của các nguyên tố đất hiếm và hỗn hợp của chúng tóm tắt ở bảng 3.

Bảng 3. Lĩnh vực sử dụng chính của các nguyên tố đất hiếm và hỗn hợp

TT

Tên

Ký hiệu

Lĩnh vực sử dụng

1

Ceri

Ce

Chất xúc tác; gốm, sứ; kính; một hợp kim của kim loại đất hiếm được sử dụng không chỉ cho đá đánh lửa trong bật lửa mà còn được sử dụng, có lẽ quan trọng hơn, trong thép thanh lọc bởi sự loại bỏ oxy và sulfur; chất huỳnh quang và bột đánh bóng

2

Dysprosi

Dy

Gốm, sứ; chất huỳnh quang và ứng dụng hạt nhân; nam chân vĩnh cửu

3

Erbi

Er

Gốm, sứ; thuốc nhuộm kính; sợi quang học; ứng dụng hạt nhân và  laze

4

Europi

Eu

Chất huỳnh quang

5

Gadolini

Gd

Gốm, sứ; kính; sự dò tìm và trực quan hoá ảnh y học quang học và từ tính

6

Holmi

Ho

Gốm, sứ; ứng dụng hạt nhân và laze

7

Lantan

La

Chất xúc tác tự động; gốm, sứ; kính; chất huỳnh quang và chất nhuộm

8

Luteti

Lu

Tinh thể đơn chất phát sáng, chất xúc tác, sản xuất huỳnh quang tia X đặc biệt

9

Neodym

Nd

Chất xúc tác; máy lọc IR, laze; chất nhuộm và nam châm vĩnh cửu

10

Praseodym

Pr

Gốm, sứ; kính và chất nhuộm; nam châm vĩnh cửa

11

Promethi

Pm

Chất huỳnh quang, pin hạt nhân và dụng cụ đo lường thu nhỏ

12

Samari

Sm

Bộ lọc vi ba; ứng dụng hạt nhân và nam châm vĩnh cửu

13

Scandi

Sc

Không gian vũ trụ; gậy bóng chày; ứng dụng hạt nhân; chất bán dẫn và chiếu sáng

14

Terbi

Tb

Chất huỳnh quang; nam chân vĩnh cửu; pin nhiên liệu

15

Thuli

Tm

Trực quan hoá ảnh y học và ống chùm điện tử

16

Ytterbi

Yb

Công nghiệp hoá học và nghề luyện kim

17

Yttri

Y

Tụ điện; chất huỳnh quang (ống dẫn tia catiot-CRT và đèn), công nghệ rada và chất siêu dẫn

1.3. Các kiểu mỏ công nghiệp

Đất hiếm có thể tạo thành mỏ công nghiệp độc lập hoặc là các nguyên tố đi cùng với nhiều loại hình nguồn gốc khác nhau. Theo Greta J. Orris1 and Richard I. Grauch [11] có thể chia ra làm 17 kiểu mỏ đất hiếm như sau:

1- Kiểu cacbonatit (Carbonatites)
2- Kiểu cacbonatit được làm giàu (Carbonatites with residual enrichment)
3- Kiểu mỏ liên quan đến phức hệ xâm nhập kiềm (Alkaline igneous complexes)
4- Kiểu oxyt sắt nhiệt dịch (Hydrothermal iron-oxide deposits)
5- Kiểu mỏ liên quan đến đá phun trào (Other Igneous affiliated)
6- Kiểu mỏ liên quan đến đá biến chất (Deposits hosted by metamorphic rocks)
7- Kiểu mỏ sa khoáng bờ biển (Shoreline placer deposits)
8- Kiểu mỏ sa khoáng trầm tích bồi tụ (Alluvial placer deposits)
9- Kiểu mỏ sa khoáng không rõ nguồn gốc (Placer uncertain origin)
10- Kiểu mỏ sa khoáng cổ (Paleoplacers)
11- Kiểu mỏ hấp thụ ion (Ion adsorption weathering crusts)
12- Kiểu phosphorit (Phosphorites)
13- Kiểu bauxit hoặc laterit chính (Bauxite or lateraite hosted)
14- Kiểu mỏ fluorit (F deposits)
15- Kiểu mỏ chì (Pb deposits)
16- Kiểu mỏ urani (Uranium deposits)
17- Các kiểu khác: Hỗn hợp và không xác định (Others: miscellaneous and unkown).
Trong các loại hình mỏ nêu trên, quan trọng nhất là các loại hình 1, 2, 3, 11, 12, 14 chúng chiếm trữ lượng khai thác có hiệu quả và sản lượng khai thác chủ yếu trên thế giới hiện nay.

1.4. Nhu cầu và thị trường quặng đất hiếm

Năm 1794: Sản xuất thương mại đất hiếm đầu tiên tại Áo.
Năm 1953: Nhu cầu đất hiếm khoảng 1.000 tấn (tương đương 25.000.000 USD).
Năm 1965: Mỏ khai thác mỏ đất hiếm độc lập đầu tiên là Mountain Pass (Mỹ).
Năm 2003: Nhu cầu đất hiếm khoảng 85.000 tấn (tương đương 500.000.000 USD).
Năm 2008: Nhu cầu đất hiếm khoảng 124.000 tấn (tương đương 1,25 tỷ USD).
Năm 2015: Dự kiến nhu cầu đất hiếm trên toàn thế giới khoảng 200.000 tấn (tương đương 2,0 ÷ 3,0 tỷ USD).
Dự báo nhu cầu thị trường đất hiếm đến năm 2015 (± 15%) thể hiện ở hình 2.
Hình 2. Dự báo nhu cầu thị trường đất hiếm của thế giới đến năm 2015
(theo IMCOA)

Hiện nay, Trung Quốc sản xuất hơn 95% các nguyên tố đất hiếm trên thế giới, một số nước đang phát triển như Canada, Mỹ và Australia. Dự báo trong thời gian tới nhu cầu cung và cầu sẽ được cân đối. Tuy nhiên, các nguyên tố đất hiếm nhóm nhóm nhẹ (LREE) được dự báo là cung vượt quá cầu, trong khi các nguyên tố đất hiếm nhóm nặng (HREE) nhu cầu sẽ ngày càng tăng, lượng cung sẽ không đủ lượng cầu. Lượng sản xuất đất hiếm trên thế giới từ năm 1985 đến năm 2009 được thể hiện ở hình 3. Các nước tiêu thụ đất hiếm lớn nhất là Mỹ (26,95%), Nhật Bản (22,69%), Trung Quốc (21,27%). Các nước xuất khẩu các sản phẩm đất hiếm lớn nhất là Trung Quốc, Mỹ, Nhật, Thái Lan. Các nước nhập khẩu các sản phẩm đất hiếm lớn nhất là Nhật Bản, Pháp, Đức, Anh, Australia. Dự báo giá của một số kim loại đất hiếm đến năm 2015 như bảng 4.

Hình 3. Sản lượng đất hiếm sản xuất từ năm 1985 - 2009
Bảng 4. Dự báo giá của một số oxyt kim loại đất hiếm đến năm 2015
(Theo tập đoàn Mackie Research Capital)

Ôxyt đất hiếm

Giá (USD)

Năm

2010

Năm

2011

Năm

2012

Năm

2013

Năm

2014

Năm

2015

Dysprosium oxide (Dy)

305

375

454

504

580

672

Dysprosium Fe (Dy)

300

369

446

496

570

661

Gadolinium oxide (Gd2O3)

70

73

71

78

65

55

Lutetium Oxide (Lu2O3)

412

461

517

579

648

726

Terbium oxide (Tb4O7)

610

778

968

1.172

1.373

1.029

Yttrium Oxide (Y2O3)

78

99

121

135

163

186

Neodymium (Nd2O3)

90

113

125

151

176

238

Europium Oxide (Eu2O3)

454

499

549

604

665

731

Yttrium Oxide (Y2O3)

8

8

3

10

11

12

Theo thống kê giá của USGS giá đất hiếm trên thế giới từ năm 1970 đến năm 2010 có sự biến động theo từng năm, từng giai đoạn và nhu cầu sử dụng. Từ năm 1970 đến năm 1988 do nhu cầu sử dụng đất hiếm chưa cao và chỉ áp dụng trong một số lĩnh vực nhất định, do vậy giá đất hiếm chưa cao. Từ năm 1988 đến năm 1993 giá đất hiếm tăng mạnh từ 2.050USD/tấn tăng đỉnh điểm trên 10.000USD/tấn, sau đó từ năm 1993 đến năm 2006 giá đất hiếm nhìn chung giảm dần và thấp nhất là năm 2006, giá đất hiếm sấp xỉ 4.000USD/tấn. Tuy nhiên, vào năm 2010 giá đất hiếm tăng mạnh mẽ, vượt ngưỡng 12.000USD/tấn (hình 4).

Hình 4. Biểu đồ thống kê giá đất hiếm từ năm 1970 đến năm 2010

Dự báo từ nay đến năm 2014 tốc độ tăng trưởng của các ngành nghề công nghiệp phổ thông tăng mạnh dẫn đến việc sử dụng các nguyên tố đất hiếm cũng tăng lên với mức độ tăng trưởng trung bình từ 12,5% đến trên 122,9% tùy theo lĩnh vực công nghiệp (bảng 5).

Bảng 5. Dự kiến tăng trưởng của các ứng dụng liên quan với đất hiếm đến năm 2014
(theo trang website: http://metal-pages.com)

Lĩnh vực sử dụng

Đơn vị tính (000s)

Năm 2008

Năm 2014

Tăng trưởng

hàng năm (%)

Nguyên tố sử dụng

Máy tính

293.000

529.000

12,5

Nd, Pr, Sm, Tb, Dy

Xe đạp, xe máy điện

23.000

100.000

34,2

Nd, Pr, Sm, Tb, Dy

Bình ác quy xe điện

527

2.717

38,8

La, Ce, Pr, Nd

Xe máy điện

527

2.717

38,8

Nd, Pr, Sm, Tb, Dy

Màn hình LCD

102.200

375.000

29,7

Eu, Y, Tb, La, Ce

Điện thoại theo tiêu chuẩn Châu Âu (CE)

1.055

58.000

122,9

Nd, Pr, Sm, Tb, Dy

Điện thoại

1.222.245

2.250.000

13,0

Nd, Pr, Sm, Tb, Dy

Tua bin gió

81

239

24,1

Nd, Pr, Sm, Tb, Dy

2. Khoáng sản đất hiếm ở Việt Nam
2.1. Đặc điểm phân bố

Các kết quả nghiên cứu, tìm kiếm, thăm dò đã phát hiện và ghi nhận nhiều mỏ, điểm quặng đất hiếm trên lãnh thổ Việt Nam (hình 5).

Hình 5. Sơ đồ phân bố các mỏ đất hiếm ở Việt Nam

- Các mỏ đất hiếm gốc và vỏ phong hoá phân bố ở Tây Bắc gồm Nậm Xe, Nam Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), Mường Hum (Lào Cai), Yên Phú (Yên Bái).
- Đất hiếm trong sa khoáng chủ yếu ở dạng monazit, xenotim là loại phosphat đất hiếm, ít hơn là silicat đất hiếm (orthit). Trong sa khoáng ven biển, monazit, xenotim được tập trung cùng với ilmenit với các mức hàm lượng khác nhau, phân bố ven bờ biển từ Quảng Ninh đến Vũng Tàu. Sa khoáng monazit trong lục địa thường phân bố ở các thềm sông, suối điển hình là các mỏ monazit ở vùng Bắc Bù Khạng (Nghệ An) như ở các điểm monazit Pom Lâu - Bản Tằm, Châu Bình… Monazit trong sa khoáng ven biển được coi là sản phẩm đi kèm và được thu hồi trong quá trình khai thác ilmenit.
Ngoài các kiểu mỏ đất hiếm nêu trên, ở vùng Tây Bắc Việt Nam còn gặp nhiều điểm quặng, biểu hiện khoáng hoá đất hiếm trong các đới mạch đồng - molipden nhiệt dịch, mạch thạch anh - xạ - hiếm nằm trong các đá biến chất cổ, trong đá vôi; các thể migmatit chứa khoáng hoá urani, thori và đất hiếm ở Sin Chải, Thèn Sin (Lai Châu); Làng Phát, Làng Nhẻo (Yên Bái);… nhưng chưa được đánh giá.

2.2. Các kiểu mỏ công nghiệp

* Theo nguồn gốc có thể chia các mỏ, điểm quặng đất hiếm trên lãnh thổ Việt Nam thành 3 loại hình mỏ như sau:
- Mỏ nhiệt dịch: phân bố ở Tây Bắc, gồm các mỏ lớn, có giá trị như Bắc Nậm Xe, Nam Nậm Xe, Đông Pao, Mường Hum, Yên Phú và hàng loạt các biểu hiện khoáng hoá đất hiếm khác trong vùng. Thân quặng có dạng mạch, thấu kính, ổ, đới xuyên cắt vào các đá có thành phần khác nhau: đá vôi, đá phun trào bazơ, đá syenit, đá phiến. Hàm lượng tổng oxyt đất hiếm trong các mỏ từ 1% đến trên 36%.
- Kiểu mỏ hấp thụ ion: kiểu mỏ này mới đươc phát hiện tại khu vực huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Quặng đất hiếm phân vỏ phong hóa của đá granit kiềm, hàm lượng tổng đất hiếm khoảng 0,0443 ÷ 0,3233%, trung bình khoảng 0,1% tREO. Các kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy, kiểu quặng này tuy hàm lượng đất hiếm không cao, nhưng điều kiện khai thác thuận lợi, công nghệ tách tuyển quặng đơn giản. Do đó, cần được quan tâm điều tra, thăm dò để khai thác khi có nhu cầu.
- Mỏ sa khoáng: gồm 2 kiểu sa khoáng chứa đất hiếm:
+ Sa khoáng lục địa: phân bố ở vùng Bắc Bù Khạng (Pom Lâu, Châu Bình và Bản Gió). Tại các mỏ, điểm quặng này đất hiếm dưới dạng khoáng vật monazit, xenotim đi cùng ilmenit, zircon. Quặng nằm trong các trầm tích thềm sông bậc I và II. Nguồn cung cấp các khoáng vật chứa đất hiếm chủ yếu từ khối granit Bù Khạng. Hàm lượng monazit 0,15 ÷ 4,8kg/m3, điều kiện khai thác, tuyển đơn giản nên cần được quan tâm thăm dò và khai thác khi có nhu cầu.
+ Sa khoáng ven biển: ven biển Việt Nam có nhiều mỏ và điểm quặng sa khoáng ilmenit có chứa các khoáng vật đất hiếm (monazit, xenotim) với hàm lượng từ 0,45 ÷  4,8kg/m3 như mỏ Kỳ Khang, Kỳ Ninh, Cẩm Hòa, Cẩm Nhượng (Hà Tĩnh), Kẻ Sung (Thừa Thiên Huế), Cát Khánh (Bình Định), Hàm Tân (Bình Thuận)… Tuy nhiên, monazit, xenotim trong các mỏ titan sa khoáng chưa được đánh giá đầy đủ.
* Theo thành phần nguyên tố, quặng đất hiếm ở Việt Nam có thể chia làm 2 loại:
- Đất hiếm nhóm nhẹ: gồm các mỏ Nam Nậm Xe, Bắc Nậm Xe, Đông Pao và quặng sa khoáng. Trong đó, khoáng vật đất hiếm chủ yếu là bastnezit (Nậm Xe, Đông Pao, Mường Hum) và monazit (Bắc Bù Khạng, sa khoáng ven biển).
- Đất hiếm nhóm nặng: điển hình là mỏ Yên Phú, tỷ lệ hàm lượng oxyt đất hiếm nhóm nặng trên tổng oxyt đất hiếm trung bình khoảng 30%. Ngoài mỏ Yên Phú, mỏ đất hiếm Mường Hum, tỷ lệ này tương đối cao, trung bình khoảng 22%.

2.3. Trữ lượng và tài nguyên

Trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở các mỏ đã được tìm kiếm, đánh giá và thăm dò được thống kê ở bảng 6.
Qua bảng 6 cho thấy:
- Tổng trữ lượng và tài nguyên đất hiếm trong các mỏ gốc và phong hóa ở Việt Nam đạt khoảng trên 16 triệu tấn tổng oxyt đất hiếm, tập trung chủ yếu ở tỉnh Lai Châu. Các mỏ đất hiếm gốc và phong hóa ở Việt Nam đều thuộc loại quy mô lớn, trong đó mỏ đất hiếm lớn nhất là Bắc Nậm Xe.
- Tổng trữ lượng và tài nguyên monazit khoảng 7.000 tấn. Khối lượng tài nguyên không lớn nhưng phân bố tập trung, điều kiện khai thác, tuyển đơn giản nên cần được quan tâm thăm dò và khai thác khi có nhu cầu.

Bảng 6. Tổng hợp trữ lượng và tài nguyên đất hiếm ở Việt Nam

TT

Tên mỏ, điểm quặng

Đá chứa quặng

 

Thành phần

khoáng vật quặng

Hàm lượng

Trữ lượng-Tài nguyên (tấn)

Ghi chú

121

122

333

334

Tổng

1

Mỏ

đất hiếm Đông Pao

Đá syenit phức hệ Pusamcap

Bastnezit, parizit, lantanit, octit.

0,5÷39%

TR23

370.583

1.475.699

2.535.591

 

4.381.873

 

2

Mỏ

đất hiếm Bắc

Nậm Xe

Đá vôi

hệ tầng

Na Vang

Bastnezit, parizit, cordilit, fluocerit, sinkizit, lantanit, mariniakit, octit, monazit, xenotim, uranokiecxit,

Quặng phong hóa:

2,0÷16,8% TR2O3

Quặng gốc:

0,6÷31,35% TR2O3

 

1.744.662

5.962.799

 

7.707.461

Đang thăm dò

3

Mỏ

đất hiếm Nam Nậm Xe

Đá phu trào hệ tầng Viên Nam

Parizit, flogopit, basnezit, lantanit

0,5÷36%

TR2O3

5.680

193.488

740.891

3.150.000

4.090.059

Đang

thăm dò

4

Mỏ

đất hiếm Mường Hum

Trầm tích Đệ tứ

Monazit, bastnezit, samarskit, rabdophanit, cordinit, exinit, thorit, zircon

1,0÷3,18%

TR2O3

 

 

45.976

83.231

129.207

Quy hoạch dự trữ

Quốc gia

5

Mỏ

đất hiếm Yên Phú

Đá phiến hệ tầng Sông Mua

Ferguxoxit, xenotim, monazit, samackit, octit, treralit, cherchit, rapdofanit, tocbecnit

0,1÷7%

TR2O3

 

27.681

4.014

 

31.695

 

6

Mỏ monazit Pom Lâu

Trầm tích Đệ tứ

Monazit, xenotim, orthit

0,15÷4,8 kg/m3 Monazit

 

 

1.090

225

1.315

 

7

Mỏ monazit Châu Bình

Trầm tích Đệ tứ

Monazit, xenotim, orthit

0,15 ÷ 4,8

kg/m3

Monazit

 

 

2.632

734

3.366

 

8

Mỏ monazit Bản Gió

Trầm tích Đệ tứ

Monazit, xenotim, orthit

0,15 ÷ 4,8

kg/m3

Monazit

 

 

710

2.039

2.749

 

Kết luận

Việt Nam là một trong những quốc gia có tiềm năng lớn về quặng đất hiếm, các mỏ đất hiếm chủ yếu thuộc nhóm nhẹ, hàm lượng quặng thuộc loại trung bình, phân bố tập trung ở vùng Tây Bắc, nên có điều kiện thuận lợi để phát triển thành một cụm công nghiệp khai thác, chế biến trong tương lai. Vì vậy, nhà nước cần có chính sách đầu tư thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên khoáng sản này phục vụ phát triển kinh tế khu vực và đất nước.
Cùng với công tác thăm dò và khai thác các mỏ đất hiếm đã biết như Đông Pao, Nậm Xe… cần tiếp tục đầu tư để phát hiện, đánh giá loại hình đất hiếm mới (kiểu hấp thụ ion) nhằm gia tăng nguồn tài nguyên, phục vụ phát triển kinh tế lâu dài.
Công tác đánh giá, thăm dò sa khoáng ven biển cần chú trọng đánh giá tài nguyên monazit một cách đầy đủ. Monazit trong sa khoáng ven biển có hàm lượng không cao nhưng điều kiện khai thác, thu hồi dễ nên cần chú ý thu hồi kết hợp trong quá trình khai thác quặng sa khoáng ven biển nhằm sử dụng triệt để tài nguyên và bảo vệ môi trường.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1]. Nguyễn Ngọc Anh, Phạm Vũ Đương và nnk, 1972. Báo cáo kết quả công tác tìm kiếm lập bản đồ địa chất tỷ lệ 1:10 000 và đánh giá 5 thân quặng ở vùng mỏ đất hiếm - fluorit - barit Đông Pao - Lai Châu. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[2]. Nguyễn Ngọc Anh, 1983. Báo cáo thăm dò mỏ đất hiếm - phóng xạ Bắc Nậm Xe - Lai Châu. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[3] Nguyễn Tiến Dư và nnk, 2011, Báo cáo thăm dò bổ sung quặng đất hiếm - fluorit - barit Đông Pao thuộc xã Bản Hon và Bản giang, huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu
[4]. Nguyễn Đắc Đồng và nnk,1992. Báo cáo kết quả công tác tìm kiếm và tìm kiếm đánh giá quặng đất hiếm - fluorit - barit Đông Pao - Phong Thổ - Lai Châu. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[5]. Nguyễn Đắc Đồng và nnk, 1994. Báo cáo kết quả tìm kiếm đất hiếm nhóm nặng và khoáng sản đi kèm phần Tây Bắc Việt Nam. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[6]. Phạm Vũ Đương và nnk, 1992. Báo cáo địa chất kết quả tìm kiếm đất hiếm phóng xạ Yên Phú (Hoàng Liên Sơn), Phù Hoạt (Nghệ An). Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[7] Trịnh Quốc Hà và nnk, 2010. Báo cáo thăm dò quặng đất hiếm khu vực yên phú xã yên phú, huyện văn yên, tỉnh Yên Bái. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[8]. Bùi Tất Hợp và nnk, 2007. Báo cáo thống kê, kiểm kê tài nguyên khoáng sản rắn (trừ vật liệu xây dựng thông thường); đánh giá hiện trạng khai thác, sử dụng và đề xuất biện pháp quản lý. Lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[9]. Trịnh Quang Ưu và nnk,1986. Báo cáo địa chất kết quả thăm dò tính trữ lượng quặng phong hóa đất hiếm phần nam thân quặng F.3 Mỏ đất hiếm Đông Pao-Lai Châu. Lưu trữ Địa chất.
[10]. I. Ia Vlasov, Iu. D. Efremov, Cao Sơn, 1961. Báo cáo kết quả công tác tìm kiếm - thăm dò mỏ đất hiếm Nậm Xe. Bản dịch - lưu trữ Liên đoàn Địa chất xạ hiếm.
[11]. Greta J. Orris1 and Richard I. Grauch, 200]. Rare Earth Element Mines, Deposits, and Occurrences. Open-File Report 02-189, U.S. Geological survey.
[12]. L.E. Taylor, J.A. Hillier A.Z. Mills, R. White at all, 2004. World Mineral Statitics 1998-2002. Minerals Programe Publication No. 16, Brictish Geological Survey
[13]. Japan international cooperation agency metalming agency of Japan, 2002. Báo cáo thăm dò thân quặng F.3 mỏ đất hiếm Đông Pao - Lai Châu.
GENERAL OUTLINES OF RARE EARTHS IN VIET NAM
BUI TAT HOP1, TRINH DINH HUAN2
1Department of Geological and Mineral Economy
2 Geological Division of Radioactivity and Rare Earths

The results of investigation, evaluation and exploration from the 1950s to date have been confirming that Viet Nam is a country of great potential in rare earths. Rare earth mines in Viet Nam are of from medium to large size, mainly of light rare earth group (lanthanum-cerium group), of hydrothermal origin and are concentrated in Northwest Viet Nam, creating favourable conditions to develop into a complex of extraction industry and processing of rare earths in the future. With the increasing demand for rare earths in the world, especially when China (supplying 95% of rare earths to the world market) begins a policy of reserve of mineral resources, the world market of rare earths becomes animated. Therefore, the investigation, evaluation and exploration of rare earths, as well as study of a policy of investment in the exploitation, processing and export of rare earths at present need a special attention.

 

 

 

Last Updated on Wednesday, 22 February 2012 12:55
 

Báo cáo về Bauxit

TÀI NGUYÊN BAUXIT Ở VIỆT NAM & SỰ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG
 Ts. Nguyễn Thành Vạn,
Phó Chủ tịch thường trực Hội Địa chất kinh tế Việt Nam,
Tổng Hội Địa chất Việt Nam
Tóm tắt:
Theo tài liệu hiện có, tài nguyên bauxit nói chung và bauxit laterit ở Việt Nam được dự tính khoảng 5,5 – 6,9 tỷ tấn và có khả năng còn tăng thêm, thuộc loại quốc gia có tài nguyên bauxit lớn trên thế giới.
Với nguồn tài nguyên bauxit phong phú, năm 2007 Việt Nam đã có quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025 nhằm phát triển bền vững ngành công nghiệp nhôm trong tương lai, góp phần phát triển bền vững đất nước.
Tuy nhiên, vấn đề hiện nay là cân đối như thế nào giữa tài nguyên và trữ lượng với tỷ lệ hợp lý để đảm bảo trữ lượng tin cậy cho sự phát triển bền vững công nghiệp khai thác, chế biên bauxit ở Việt Nam trong sự ảnh hưởng của lạm phát, suy giảm kinh tế ở khu vực và toàn cầu.
Hy vọng sẽ làm rõ được vấn đề này trong quá trình nghiên cứu điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đang được triển khai.
 
 
I- Tài nguyên Bauxit ở Việt Nam
Tài nguyên bauxit ở Việt Nam đã được biết đến từ những năm 30 thế kỷ trước, khi vào khoảng năm 1936-1943 các nhà địa chất Pháp đã phát hiện và khai thác mỏ bauxit Lỗ Sơn (Hải Dương) và các mỏ bauxit ở vùng Lạng Sơn.
Cho đến trước năm 1975 kết quả điều tra, thăm dò của ngành địa chất Việt Nam đã xác định và sơ bộ đánh giá triển vọng các vùng quặng bauxit lớn ở miền Bắc Việt Nam phân bố ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang, Nghệ An. Trữ lượng và tài nguyên được điều tra, thăm dò với các độ tin cậy khác nhau ở các vùng quặng bauxit này đạt 357,205 triệu tấn, trong đó trữ lượng chung ở các nhóm mỏ Lạng Sơn và Cao Bằng (tính đến năm 1969) được 36,4 triệu tấn (chiếm 10,2% tổng trữ lượng và tài nguyên) và đã đưa ra nhận định “Bauxit đang trở thành một khoáng sản lớn ở nước ta” [2; tr. 39].
Quặng bauxite ở miền Bắc Việt Nam chủ yếu là loại bauxite trầm tích có tuổi Permi muộn nằm trên mặt bào mòn của đá vôi Carbon-Permi, rất ít mỏ nằm trên mặt bào mòn đá vôi tuổi Devon. Thành phần khoáng vật quặng bauxite trầm tích chủ yếu là diaspo, bomit.
Ở miền Bắc Việt Nam cũng có một số ít quặng bauxite laterit trong vỏ phong hóa các đá bazan tuổi Pliocen-Pleistocen nhưng tài nguyên nhỏ, không có giá trị công nghiệp.
Từ năm 1975 đến nay công tác điều tra, thăm dò bauxit ở Việt Nam đã đưa lại những kết quả mới với những dự báo đến “chóng mặt”, chủ yếu liên quan đến loại bauxit laterit trong các vỏ phong hóa các đá bazan tuổi Neogen và Pliocen- Pleistocen (N2 – Q1) ở miền Nam Việt Nam:
  • 1995: 5,4 tỷ tấn quặng nguyên khai [3],
  • 2000 – 2005: 6,75 tỷ tấn quặng nguyên khai [4],
  • 2007: 5,4 tỷ tấn quặng nguyên khai (2,298 tỷ tấn quặng tinh) [9],
  • 2009: 6,75 tỷ tấn quặng nguyên khai (1,62 tỷ tấn quặng tinh ) [5],
  • 2010: 6,91 tỷ tấn quặng nguyên khai (3,088 tỷ tấn quặng tinh) [6],
  • Và 2010: 11 tỷ tấn quặng nguyên khai [8].
 Bảng 1: Thống kê các mỏ Bauxit laterit chính ở miền Nam Việt Nam

TT

Tên mỏ

Diện tích (km2)

Mức độ thăm dò

Trữ lượng quặng tinh đã được phê duyệt hoặc dự kiến đạt được (tr.tấn)

Quặng nguyên khai (tr.tấn)

Trữ lượng

Tài nguyên

Tổng

1
"1-5"
123
Đã
97,3
36,3
133,6
283,7
2
Gia Nghĩa
117,5
Đã
95,7
44
139,7
308,5
3
Tân Rai
70
Đã
37,7
79
116,7
236,0
4
Tây Tân Rai
43
Đã
53,3
6,5
59,8
148,8
5
Đồi Thắng Lợi
3
Đã
2,7
 
2,7
5,4

Tổng
356,5



452,5
982,4
6
Kon Nà Nừng
67,5
Đang
 
52,7
52,7
117,1
7
Bắc Gia Nghĩa
142,5
Đang
 
189,7
189,7
462,6
8
Đăk Song
228
Đang
 
326,2
326,2
795,5
9
Gia Nghĩa 2
205,5
Đang
 
253,4
253,4
618,1
10
Đông bắc và Tây Nam 1-5
174,6
Đang
 
162,7
162,7
396,8
11
Nhân Cơ
286
Đang
 
269,4
269,4
660,0
12
Tân Rai (TKV)
94,5
Đang
 
341,0
341
643,7
13
Bảo Lộc (TKV)
67,8
Đang
 
162,0
162
306,1
14
Thống Nhất
341,3
Đang
 
291,0
291,0
582
15
Thọ Sơn
158,9
Đang
 
116,1
116,1
232,0
16
Quảng Sơn
83,6
Đang
 
115,4
115,4
281,5
17
Tuy Đức
240
Đang
 
310,4
310,4
757,7
18
TCTy Hóa chất (mỏ Bảo Lộc)
36,7
Đang
 
38
38
66,1
19
Vân Hòa
5
Đang
 
8
8
16,0

Tổng
2.131,9



2.636,0
5.935,2
 
Tổng cộng
2.488,4
 
 
 
3.088,5
6.917,6
Nguồn: [6]
Những số liệu nêu trong bảng 1 có tính “dự kiến” và cho thấy triển vọng tiềm năng của bauxit laterit ở miền Nam Việt Nam thuộc loại lớn theo thang phân loại triển vọng của ngành địa chất Việt Nam đang dùng.
Quặng bauxit laterit ở miền Nam Việt Nam tập trung chủ yếu ở Tây Nguyên. Gần đây (năm 2010) một kết quả thống kê chuyển đổi trữ lượng và tài nguyên bauxit laterit về một “mặt bằng cấp trữ lượng và tài nguyên” theo quy định về thăm dò, phân cấp trữ lượng và tài nguyên bauxit cho thấy tổng trữ lượng và tài nguyên bauxit laterit của 23 mỏ ở Tây Nguyên được 2,522 tỷ tấn quặng tinh (+1mm), giảm 566 triệu tấn quặng tinh (18, 3%) so với dự kiến trong bảng 1. Trữ lượng quặng tinh có thể huy động vào nghiên cứu khả thi khai thác đạt 314,159 triệu tấn (15,64% so với tổng tài nguyên tinh quặng). Trữ lượng đã được cấp phép khai thác 50,739 triệu tấn chiếm 16,15% trong tổng trữ lượng quặng tinh và chỉ đạt 2,01% tổng trữ lượng và tài nguyên quặng tinh nêu trên.
Cho đến nay (tháng 2/2012), kết quả thăm dò 4 mỏ bauxite laterit ở Đăk Nông và Bình Phước đạt tổng trữ lượng (cấp 121+122) và tài nguyên (cấp 333) là 1.346,129 triệu tấn quặng nguyên khai, tương đương 520,901 triệu tấn tinh quặng (+1mm), giảm so với số dự kiến ở 4 mỏ tương ứng trong bảng 1 là 548,6 triệu tấn quặng nguyên khai (giảm 28,95% so với dự kiến), tương đương giảm 329,3 triệu tấn tinh quặng (giảm 38,73%). Kết quả này cho thấy nhận định chung rằng “thường khi thăm dò tỉ mỉ đều cho trữ lượng và chất lượng tăng” [8, tr.64] không phải hoàn toàn đúng.
Như vậy, về tổng thể tiềm năng tài nguyên bauxit nói chung và bauxit laterit ở Việt Nam là lớn, nhưng với những dẫn liệu nêu trên có thể thấy những số liệu về tài nguyên bauxit ở Việt Nam rất cần được tổng hợp lại, cập nhật kịp thời và cần đồng bộ hóa dữ liệu, đưa về một mặt bằng tin cậy để sử dụng cho nhiều mục đích phát triển kinh tế - xã hội.
 II- Tài nguyên Bauxit và sự phát triển bền vững
Phát triển bền vững” đã được Việt Nam xác định như là mục tiêu chiến lược phát triển trong nhiều văn kiện và được thể chế hóa trong “Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam) ban hành kèm theo quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ với khái niệm “ phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng được những yêu cầu của hiện tại, nhưng không gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau” [1].
Phát triển bền vững là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ và nâng cao được chất lượng môi trường sống [1].
Mối quan hệ giữa tài nguyên bauxit với phát triển bền vững ở Việt Nam đã được xem xét, trình bày trong nhiều văn liệu, tại nhiều hội thảo với nhiều cách nhìn nhận, đôi khi trái chiều. Sự phát triển của công nghiệp nhôm trên thế giới cho thấy để phát triển công nghiệp nhôm không nhất thiết quốc gia phải có giàu quặng nhôm (quặng bauxit). Tuy nhiên, khi đã có và có giàu quặng nhôm như ở Việt Nam thì việc phát huy lợi thế tài nguyên thiên nhiên có sẵn cho hiện nay và mai sau là bài toán kinh tế - xã hội cần được cân nhắc, trong đó có việc phải làm rõ cơ sở tài nguyên như một cơ sở quan trọng để phát triển bền vững. Quan điểm này đã được thể hiện rõ trong “Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025”  theo quyết định số 167/2006/QĐ-TTg ngày 01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ khi xác định mục tiêu và định hướng phát triển: “ Đẩy mạnh công tác thăm dò và nâng cấp trữ lượng tài nguyên bauxit để đảm bảo độ tin cậy cho việc khai thác; đảm bảo trữ lượng tin cậy cho phát triển bền vững công nghiệp khai thác và chế biến bauxit toàn quốc” [9]. Trong báo cáo này nêu vấn đề phát triển bền vững ở góc độ “tài nguyên bauxit và mức độ sẵn sàng của tài nguyên phục vụ sự phát triển bền vững” theo quan điểm định hướng nêu trên.
Bảng. 2- Các nước có tài nguyên quặng bauxit hàng đầu thế giới
Các nước
Sản xuất (ngàn tấn)
Trữ lượng chắc chắn
(Tr tấn)
Tài nguyên  dự báo
(Tr. tấn)
Năm 2007
Năm 2008
Úc
62.400
63.000 (67.000)
5.800 (6.200)
7.900
Brasil
24.800
25.000 (31.000)
1.900 (3.600)
2.500 (không có số liệu)
Trung Quốc
30.000
32.000 (46.000)
700 (830)
23.000
Hy Lạp
2.220
2.200
600
650
Ghi nê
18.000
18.000
7.400
8.600
Guyana
1.600
1.600
700
900
Ấn độ
19.200
20.000
770
1.400
Jamaika
14.600
15.000
2.000
2.500
Kazastan
4.800
4.800
360
450
Nga
6.400
6.400
200
250
Suriname
4.900
4.500
580
600
Venezuela
5.900
5.900
320
350
Việt Nam
30(80)
30 (80)
2.100
5.400
Các nước khác
7.150
6.800
3.200
3.800
Tổng thế giới
202.000
205.000
27.000 (29.000)
38.000
Nguồn: [7] (số liệu 2012)
Theo số liệu trong bảng 2 có thể thấy tỷ lệ giữa trữ lượng và tài nguyên của quặng bauxit ở Việt Nam đạt 38,88% thấp hơn nhiều so với tỷ lệ này ở một số nước có tài nguyên và sản lượng ngành công nghiệp bauxit – alumin – nhôm cao  trên thế giới như  Ghine (86,0%), Jamaica (80%), Brasil (76% và tăng gấp đôi trữ lượng vào năm 2012),  Úc (73,41% và 78,48% năm 2012), Ấn độ (55%) nhưng cao hơn nhiều so với Trung Quốc (3,04% và 3,60% năm 2012). Xu hướng chung là tăng tỷ lệ trữ lượng / tài nguyên trong quá trình phát triển.
Theo số liệu trong Quy hoạch (2007) thì tỷ lệ này ở các vùng của Việt Nam như sau:
-         Tỷ lệ trung bình (quặng tinh) ở miền Bắc Việt Nam: 32,9%
-         Tỷ lệ trung bình (quặng tinh) ở miền Nam Việt Nam: 12,5%, trong đó:
-         Vùng Konplong-Kanak: 3,04%
-         Vùng Đăk Nông: 7,03%
-         Vùng Di Linh-Bảo Lộc: 37,9%
-         Vùng Phước Long: 0%
Những số liệu này cho thấy tỷ lệ trung bình ở miền Bắc, miền Nam và các vùng quặng bauxit tập trung ở Tây Nguyên còn thấp xa so với các nước nêu trên nhưng vẫn bằng (vùng Konplong-Kanak) và cao hơn so với tỷ lệ ở Trung Quốc.
Nếu coi tỷ lệ nêu trên là một chỉ số về mức độ sẵn sàng để huy động trữ lượng vào khai thác thì những vấn đề đặt ra ở đây là:
- Tỷ lệ nào là thích hợp đối với mỗi vùng quặng bauxit để đảm bảo trữ    lượng tin cậy cho phát triển bền vững công nghiệp nhôm ở Việt Nam?
- Tỷ lệ thích hợp phụ thuộc vào số liệu tài nguyên và trữ lượng đã được xác định với mức tin cậy hợp lý. Tổng tài nguyên bauxit thực có và có thể huy động vào quy hoạch phát triển bền vững nên là bao nhiêu?
- Liệu có thể rút ra kinh nghiệm gì về chính sách phát triển công nghiệp nhôm từ mức độ sẵn sàng với tỷ lệ còn thấp như số liệu tham khảo nêu trên của Trung Quốc?
Chính phủ Việt Nam đang chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch đã có từ năm 2007, hy vọng rằng những vấn dề nêu trên sẽ được giải quyết thỏa đáng để góp phần làm cho tài nguyên bauxit ở Việt Nam thực sự là nguồn tài nguyên có giá trị trong quá trình phát triển bền vững ở Việt Nam.
 Tài liệu tham khảo:
1- Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), ban hành theo Quyết định số 153/2004/QĐ-TTg ngày 17/8/2004 của Thủ tướng Chính phủ.
2- Lê Văn Cự (chủ biên) và nnk, 1982- Khoáng sản miền Bắc Việt Nam, Tập    IV, Tổng Cục Địa chất xuất bản, Hà Nội.
3- Lê Văn Trảo, Phạm Văn Mẫn, 1995- Bauxit Việt Nam. Trong “Báo cáo Hội nghị Khoa học địa chất Việt Nam”, Hà Nội.
4- Trần Văn Trị (chủ biên) và nnk, 2005- Tài nguyên khoáng sản Việt Nam, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam xuất bản, Hà Nội.
5- Trần Văn Trị, Vũ Khúc (đồng chủ biên) và nnk, 2009- Địa chất và Tài nguyên Việt Nam. NXB Khoa học tự nhiên và Công nghệ, Hà Nội.
6- Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản, 2011 - Đề án “Điều tra đánh giá tổng thể tiềm năng quặng bauxite, quặng sắt laterit miền Nam Việt Nam”, Hà Nội.
7- U.S. Geological Survey. Mineral Commodity Summaries, 2007-2008 và  2011-2012.
8- Viện CODE, 2010 – Khai thác bauxit và phát triển bền vững Tây Nguyên. NXB Tri thức, Hà Nội.
9- Quy hoạch phân vùng thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng quặng bauxit giai đoạn 2007 – 2015, có xét đến năm 2025, ban hành theo Quyết định số 167/2007/QĐ-TTg ngày 01/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ.
 
 
BAUXITE RESOURCES IN VIET NAM & SUSTAINABLE DEVELOPMENT
Dr. NGUYEN THANH VAN
Standing Vice-Chairman, Viet Nam Association for Economic Geology,
Viet Nam Union of Geological Sciences (VUGS)
According to existing documents, bauxite resources in general and laterite bauxite in Viet Nam are estimated as about 5.5-6.9 milliards tons, which are probably still increasing, ranking the country to the group of large bauxite resources in the world.
With these abundant bauxite resources, in 2007, Viet Nam established regional scheme for exploration, exploitation, processing and use of bauxite ores for the period of 2007-2015, with the period until 2025 taken into account, in order to sustainably develop the aluminium industry in the future, to contribute in the sustainable development of the country.
However, the present question is how to balance the resources and reserves in a reasonable ratio, to ensure trustworthy reserves for the sustainable development of the bauxite mining and processing industry in Viet Nam, with the impact of the regional and worldwide inflation and economic decline.
We hope that this issue will be clarified during the study, adjustment and completion process of the planning which is being carried out.
 

Last Updated on Wednesday, 22 February 2012 07:23
 

Luat Khoang san và thi hành Luật

LUẬT KHOÁNG SẢN VÀ HIỆN TRẠNG THI HÀNH LUẬT
TRONG HOẠT ĐỘNG KHAI THÁC KHOÁNG SẢN.
TS. Lê Văn Thành

I. Sự hình thành và phát triển của Luật khoáng sản.

Ngày 09 tháng 11 năm 1946 Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước dân chủ nhân dân. Đây là đạo luật cơ bản của Nhà nước, đạo luật gốc, đạo luật mẹ làm cơ sở cho việc ban hành các đạo luật khác.

Tuy nhiên chúng ta chưa có điều kiện xây dựng và ban hành Luật khoáng sản trên cơ sở của Hiến pháp 1946 do đất nước phải trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Tài nguyên khoáng sản đã được khai thác, đã có đóng góp lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước trong thời kỳ chiến tranh và khôi phục hậu quả của chiến tranh. Việc điều chỉnh các mối quan hệ về khai thác, sử dụng khoáng sản chủ yếu được thực hiện bằng các văn bản của các cơ quan quản lý hành chính nhà nước.

Ngày 28 tháng 7 năm 1989, Hội đồng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành Pháp lệnh về tài nguyên khoáng sản.

Ngày 20 tháng 3 năm 1996, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX thông qua Luật khoáng sản. Đây là đạo luật đầu tiên quy định về quản lý, bảo vệ, điều tra cơ bản địa chất về tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản. Luật này đã được sửa đổi, bổ sung một số điều và thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005.

Ngày 17 tháng 11 năm 2010, Luật khoáng sản được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII thông qua. Đây là đạo luật mới nhất quy định việc điều tra cơ bản địa chất về khoáng sản; bảo vệ khoáng sản chưa khai thác; thăm dò, khai thác khoáng sản; quản lý nhà nước về khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Như vậy, Luật khoáng sản đã được ban hành như một đạo luật độc lập để điều chỉnh các mối quan hệ liên quan đến tài nguyên khoáng sản và hoạt động khoáng sản mới chỉ được 17 năm. 17 năm với 2 lần ban hành, 1 lần sửa đổi một số điều đã thể hiện tính chất phức tạp của công tác quản lý nhà nước, thực tiễn của việc ban hành và thi hành các quy định pháp luật đối với tài nguyên khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia.

II. Hiện trạng thi hành luật trong hoạt động khai thác khoáng sản.

1. Công tác quản lý nhà nước.

Quán triệt quan điểm chỉ đạo tại Điều 17 của Hiến pháp năm 1992, Luật khoáng sản khẳng định “Tài nguyên khoáng sản trong phạm vi đất liền, hải đảo, nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đều thuộc sở hữu toàn dân, do Nhà nước thống nhất quản lý”.

Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về khoáng sản. Chính phủ phân công các Bộ, ngành ở Trung ương và giao nhiệm vụ cho Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện các nhiệm vụ cụ thể về quản lý nhà nước về khoáng sản và hoạt động khoáng sản.

Việc ban hành các văn bản để hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản đã được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành ở Trung ương và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành kịp thời, đồng bộ, cụ thể hóa các quy định của Luật để áp dụng thống nhất.

Số lượng văn bản hướng dẫn thi hành Luật khoáng sản đã được ban hành.

Văn bản hướng dẫn thi hành

Chính phủ

Thủ tướng Chính phủ

Các Bộ, ngành

UBND

cấp tỉnh

Pháp lệnh về tài nguyên

3

1

7

43

Luật khoáng sản 1996

5

6

26

173

Luật khoáng sản 2005(*)

3

5

9

136

Luật khoáng sản 2010

1

1

 

3

 

(*) Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật khoáng sản ban hành năm 2005.

Công tác thanh tra, kiểm tra đã được các cơ quan có chức năng: Thanh tra Chính phủ, Thanh tra Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, Sở Tài nguyên và Môi trường triển khai thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Các Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân các địa phương đã tổ chức nhiều cuộc kiểm tra liên ngành về lĩnh vực bảo vệ tài nguyên khoáng sản hoặc về các vấn đề liên quan trong hoạt động khoáng sản như: môi trường, bảo vệ cảnh quan, di tích lịch sử, văn hóa, an ninh quốc phòng, giao thông, nông nghiệp, xuất khẩu khoáng sản, khai thác khoáng sản trái phép, v.v.

Các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền được giao nhiệm vụ cấp phép cho tổ chức, cá nhân thăm dò, khai thác khoáng sản đã bám sát các quy định của Luật khoáng sản. Số lượng giấy phép hoạt động khoáng sản phụ thuộc vào mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội của cả nước và của từng địa phương trong từng giai đoạn khác nhau.

Từ khi Luật khoáng sản 1996 có hiệu lực đến tháng 7 năm 2011, theo sự phân cấp của Chính phủ, Bộ Công nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp 460 giấy phép; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đã cấp hơn 10.000 giấy phép (đến nay còn khoảng 4000 giấy phép đang còn hiệu lực) cho các doanh nghiệp khai thác các loại khoáng sản.

Việc phân cấp thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản theo quy định của pháp luật về khoáng sản được thể hiện ở bảng sau:

Quy định

Cấp Bộ(*)

UBND cấp tỉnh(**)

Pháp lệnh về tài nguyên khoáng sản

Hội đồng Bộ trưởng quy định (***).

Hội đồng Bộ trưởng quy định (***).

Luật khoáng sản 1996

Giao Chính phủ quy định(****).

Giao Chính phủ quy định(****).

Luật khoáng sản 2005

Cấp giấy phép khai thác khoáng sản, trừ trường hợp đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Cấp giấy phép khai thác vật liệu xây dựng thông thường, than bùn.

- Cấp giấy phép khai thác khoáng sản đối với khu vực đã được điều tra, đánh giá hoặc thăm dò, phê duyệt trữ lượng khoáng sản mà không nằm trong quy hoạch khai thác, chế biến khoáng sản của cả nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt hoặc không thuộc diện dự trữ tài nguyên khoáng sản quốc gia.

- Cấp giấy phép khai thác tận thu tại các khu vực có khoáng sản phân bố không tập trung, khu vực khai thác lại ở các mỏ đã có quyết định đóng cửa; khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường không theo quy mô công nghiệp.

(Cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản khoanh định các khu vực được phép khai thác tận thu)

Luật khoáng sản 2010

Cấp giấy phép khai thác khoáng sản không thuộc trường hợp thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

- Cấp giấy phép khai thác vật liệu xây dựng thông thường, than bùn.

- Cấp giấy phép khai thác khoáng sản tại các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ được Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định, công bố.

- Cấp giấy phép khai thác tận thu khoáng sản còn lại ở bãi thải của mỏ đã có quyết định đóng cửa mỏ.

 

(*) Bộ Công nghiệp nặng, Bộ Công nghiệp, Bộ Tài nguyên và Môi trường.

(**) Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.

(***) Hội đồng Bộ trưởng đã quy định tại Nghị định số 95-HĐBT ngày 25 tháng 3 năm 1992 về việc thi hành Pháp lệnh về tài nguyên khoáng sản, theo đó:

- Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng quyết định việc cho phép các Công ty nước ngoài thăm dò, khai thác dầu mỏ và khí đốt; các doanh nghiệp trong và ngoài nước khai thác các loại khoáng sản quý.

- Bộ trưởng Bô Công nghiệp nặng cấp giấy phép khai thác tài nguyên khoáng sản các loại (trừ trường hợp thuộc Chủ tịch HĐBT và UBND tỉnh).

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy phép khai thác mỏ các khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn với quy mô sản lượng không quá 30.000m3 hoặc 50.000 tấn nguyên khai mỗi năm; khai thác nước dưới đất (trừ nước khoáng) với lưu lượng không quá 1.000 m3/ngày.

(****) Chính phủ đã quy định tại Nghị định số 68/CP ngày 01 tháng 11 năm 1996 quy định chi tiết việc thi hành Luật khoáng sản, theo đó:

- Bộ Công nghiệp cấp giấy phép khai thác khoáng sản (trừ trường hợp đã phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh); cấp giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường đối với khu vực ranh giới của 2 hoặc nhiều tỉnh hoặc trong trường hợp cấp cho tổ chức, cá nhân nước ngoài hoặc liên doanh có bên nước ngoài.

- Ủy ban nhân dân tỉnh cấp giấy phép khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường và than bùn cho tổ chức, cá nhân trong nước; cấp giấy phép khai thác tận thu khoáng sản các loại đối với các khu vực đã được Bộ Công nghiệp khoanh định và bàn giao cho UBND tỉnh.

2. Tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khai thác khoáng sản.

Các tổ chức, cá nhân tham gia khai thác khoáng sản bao gồm Doanh nghiệp nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Công ty TNHH, Công ty Cổ phần, Hợp tác xã. Các tổ chức này có quy định chức năng khai thác khoáng sản trong quyết định cho phép thành lập hoặc có đăng ký ngành nghề khai thác khoáng sản theo quy định.

Theo thống kê, hiện nay có gần 2000 tổ chức (doanh nghiệp) đang tham gia hoạt động khai thác khoáng sản trên phạm vi cả nước. Số lượng doanh nghiệp tham gia hoạt động khai thác khoáng sản làm vật liệu xây dựng thông thường chiếm đa số (khoảng 80%). Các doanh nghiệp khai thác khoáng sản than đá, apatit, đồng, chì, kẽm, titan, sắt, đá vôi xi măng, đá hoa trắng có quy mô đầu tư lớn, công nghệ khai thác tiên tiến. Còn lại các doanh nghiệp khai thác các khoáng sản khác, đặc biệt là khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường đều có quy mô vừa và nhỏ, công nghệ khai thác lạc hậu, thậm chí khai thác khoáng sản bằng phương pháp thủ công hoặc bán cơ giới.

Do tính đặc thù của các loại hình doanh nghiệp tham gia hoạt động khai thác khá đa dạng và phong phú như đã nêu trên nên việc chấp hành pháp luật về khoáng sản cũng không đồng nhất. Những tồn tại chủ yếu của các doanh nghiệp hoạt động khai thác khoáng sản bao gồm:

- Không có dự án đầu tư hoặc dự án đầu tư được lập sơ sài, chưa đúng quy định. Các thông tin chính về khoáng sản, công nghệ, thị trường và thông tin khác có liên quan sử dụng để lập dự án đầu tư chưa đầy đủ, thiếu chính xác.

- Nhiều mỏ được đưa vào khai thác nhưng không có kết quả thăm dò, đánh giá trữ lượng khoáng sản, hoặc kết quả thăm dò chưa đáp ứng đúng yêu cầu theo quy chuẩn kỹ thuật thăm dò khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản chưa được khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả.

- Hoạt động khai thác mỏ không có Thiết kế mỏ được thẩm định, phê duyệt theo quy định. Phần lớn là các mỏ khai thác khoáng sản vật liệu xây dựng thông thường, các mỏ khai thác khoáng sản khác ở quy mô nhỏ.

- Có tình trạng phân chia một mỏ thành nhiều khu vực nhỏ cho nhiều doanh nghiệp cùng khai thác nên dẫn đến tình trạng lãng phí tài nguyên khoáng sản, khai thác không đảm bảo an toàn lao động, gây mất an ninh trật tự trên địa bàn.

- Phần lớn Giám đốc điều hành mỏ chưa được bổ nhiệm đúng về yêu cầu năng lực, trình độ. Khai thác mỏ chưa đúng thiết kế. An toàn lao động trong khai thác mỏ chưa tốt.

- Không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ báo cáo định kỳ 6 tháng và cuối năm, lập bản đồ hiện trạng khai thác mỏ kèm theo báo cáo định kỳ gửi cơ quan quản lý nhà nước về khoáng sản theo quy định. Khai thác vượt công suất, khai thác ra ngoài ranh giới theo quy định đã được ghi tại giấy phép khai thác mỏ.

- Bảo vệ môi trường, cảnh quan thiên nhiên, đất nông nghiệp, v.v trong hoạt động khai thác khoáng sản chưa được thực hiện đầy đủ theo Báo cáo đánh giá tác động môi trường, Bản cam kết bảo vệ môi trường, Dự án đóng cửa mỏ.

3. Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép.

Tình trạng khai thác khoáng sản trái phép tồn tại ở nhiều địa phương. Loại khoáng sản bị khai thác chủ yếu là vàng sa khoáng, thiếc, vonfram, titan sa khoáng, mangan, sắt, than đá, cát sông suối. Vàng sa khoáng và cát sông suối là các đối tượng bị khai thác trái phép trên nhiều địa bàn địa phương, rất khó kiểm soát. Nguyên nhân của việc khai thác khoáng sản trái phép chủ yếu là do công tác quản lý yếu kém của chính quyền địa phương (cấp xã, huyện); khoáng sản dễ khai thác bằng phương pháp thủ công hoặc bán cơ giới; quy định về trách nhiệm quản lý của pháp luật chưa rõ ràng, đồng bộ; thiếu kinh phí cho công tác bảo vệ tài nguyên khoáng sản.

III. Những quy định mới của Luật 2010 đối với hoạt động khai thác khoáng sản

1. Chuyển đổi từ cơ chế “xin – cho” sang cơ chế đấu giá quyền khai thác khoáng sản. Đây là chính sách nhằm đảm bảo tính công bằng, bình đẳng cho các nhà đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để lựa chọn được nhà đầu tư có năng lực. Việc cấp quyền khai thác khoáng sản phải thực hiện trên cơ sở kết quả đấu giá quyền khai thác khoáng sản nhằm bảo đảm tính công khai, minh bạch, tăng thu cho ngân sách nhà nước.

Việc cấp quyền khai thác khoáng sản không thông qua đấu giá chỉ được thực hiện ở những khu vực do Thủ tướng Chính phủ hoặc Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định dựa trên các tiêu chỉ do Chính phủ ban hành và áp dụng thống nhất chung cả nước.

2. Nhà nước thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản. Việc xác định mức thu tiền cấp quyền khai thác khoáng sản phải căn cứ vào trữ lượng, chất lượng, điều kiện khai thác khoáng sản và sẽ được Chính phủ quy định chi tiết.

3. Phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp giấy phép thăm dò, khai thác đối với các khu vực có khoáng sản phân tán, nhỏ lẻ. Những khu vực khoáng sản này do Bộ Tài nguyên và Môi trường khoanh định và công bố.

IV. Kết luận

Luật khoáng sản của Việt Nam đã có quá trình hình thành và phát triển trong một khoảng thời gian ngắn (từ năm 1996 đến nay). Luật khoáng sản đã góp phần tích cực vào việc củng cố và phát triển địa vị nhà nước pháp quyền trong lĩnh vực quản lý tài nguyên khoáng sản là tài sản quan trọng của quốc gia. Luật khoáng sản đã quy định hành lang pháp lý để các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức, cá nhân thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Các cơ quan quản lý đã xây dựng, ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết thi hành luật. Các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động khoáng sản chấp hành tốt các quyền và nghĩa vụ theo quy định. Các tổ chức, cá nhân có liên quan đều tham gia giám sát, bảo vệ tài nguyên khoáng sản chưa khai thác. Cả hệ thống Nhà nước, nhân dân, các doanh nghiệp tham gia hoạt động khoáng sản thực hiện mục tiêu: bảo vệ tài nguyên khoáng sản; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên khoáng sản và xây dựng ngành công nghiệp khai khoáng phát triển bền vững.

 

Last Updated on Saturday, 18 February 2012 11:37
 

Than

TỔNG QUAN VỀ TIỀM NĂNG THAN VIỆT NAM
TS. Nguyễn Sỹ Quý- KS. Nguyễn Đồng Hưng

Tóm tắt:

Than VN có bốn loại:than bùn, than lignit, than bitum và than antraxit.Các mỏ than bùn, lignit, bitum và antraxit có trữ lượng và tiềm năng nhỏ. Các mỏ than bùn, lignit dưới đồng bằng có tiềm năng lớn, nhưng khó khai thác.Bể than antraxit Quảng Ninh có trữ lượng và tiềm năng lớn có thể đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong nước và xuất khẩu.

Than Việt Nam gồm 4 loại Than Bùn, than Lignit, Than Bitum, Than Antraxit.

 I.Than Bùn:

Than Bùn thường nằm ngày trên mặt hay nằm sâu dưới mặt đất, trong trầm tích Đệ Tứ.

Diện tích các ruộng than bùn thường từ vài trăm mét vuông, đến vài hecta hoặc vài trăm kilomet vuông.

Chiều dày các lớp than bùn thường dày từ vài centimets đến vài mét (Có thể dày tơi 5-6m).

 

Chất lượng than bùn:

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Trung bình

Độ ẩm         ( % )

W pt

7,50

17,14

12,80

Độ tro          (% )

A k

10,80

50,50

25,50

Chất bốc       (%)

V k

38,68

70,00

50,00

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

2841

5370

4360

Cacbon          (%)

Cc

4,60

43,29

17,29

Oxy               (%)

Oo

10,20

16,28

12,30

Hydro            (%)

Hc

1,40

3,84

2,20

Nito                (%)

Nc

0,40

2,00

1,20

Lưu huỳnh      (%)

S chg

0,42

3,75

1,70

Photpho         (%)

P

0,0004

0,0196

0,001

 

P2O5

0,04

0,26

0,16

 

K2O

0,10

1,18

0,30

 

pH

3,60

6,00

4,50

 

Tổng tiềm năng than bùn dự báo có khoảng 7100 triệu m3., trong đó :

Dưới đồng  bằng Nam Bộ có khoảng                               5.000 triệu m3.

Dưới đồng  bằng  Bắc Bộ có khoảng                                1.650 triệu m3.

Dưới đồng bằng ven biển Miền Trung  có khoảng              450 triệu m3.

 

Tuy tiềm năng than bùn lớn, nhưng việc khai thác sử dụng cần tính toán cẩn trọng. Vì sau khi khai thác các ruộng than bị nhiễm axit mùn cây , làm cho không thể trồng trọt và chăn nuôi thủy sản được.

II.Than Lignit:

Than Lignit Việt Nam phân bố ở các mỏ than Na Dương (Lạng Sơn), Nà Cáp (Cao Bằng), Hang Mon (Sơn La), Bố Hạ (Bắc Giang), Đôn Phục (Nghệ An), Bảo Lộc (Lâm Đồng) và bể than Đồng bằng sông Hồng (Viết tắt ĐBSH).

Các mỏ than trên hầu hết là các mỏ nhỏ, đã được tìm kiếm – thăm dò, có tổng trữ lượng và tiềm năng đạt khoảng 110 triệu tấn .

Riêng bể than ĐBSH có tổng tiềm năng đạt khoảng 210 tỉ tấn. Bể than có một diện tích nhỏ (25 km2) – là mỏ than Bình Minh, đã được thăm dò sơ bộ,  trữ lượng của mỏ đạt  khoảng 373 triệu tấn.

Chất lượng than Lignit của các mỏ nhỏ, do có hàm lượng lưu huỳnh cao, nên không dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp mà chỉ dùng làm nhiên liệu sinh hoạt hoặc cho các nhà máy điện.

 

- Chất lượng của than ĐBSH khá tốt:

 

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Trung bình

Độ ẩm ( % )

W pt

8,93

28,50

17,68

Độ tro   (% )

A k

2,48

35,35

11,84

Chất bốc  (%)

V k

31,32

48,31

42,86

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

3961

7150

6022

Lưu huỳnh  (%)

S chg

0,35

0,71

0,59

Mêtan  (%)

CH4

 

 

25,20

Hydro  (%)

H 2

 

 

9,10

Tỉ trọng

d

1,32

1,43

1,35

 

-         Điều kiện địa chất thủy văn và điều kiện địa chất công trình:

Dự tính lưu lượng nước chảy vào mỏ là 20.000 m3/h và đất đá vách trụ vỉa than chủ yếu là bột kết sét kết mềm yếu, không ổn định; các lớp cát kết bở rời chứa nước.

 

Vì vậy, nếu tiến hành khai thác than ĐBSH sẽ gặp rất nhiều khó khăn trở ngại về ĐCTV, ĐCCT và ảnh hưởng rất nhiều đến  môi sinh, môi trường.

 

 

 

III. Than Bitum

Than Bitum được tìm kiếm thăm dò ở 13 mỏ :

Điện Biên có mỏ Thanh An,

Sơn La có mỏ Suối Bàng, Mường Lựm, Na Sang, Nà Sung, Quỳnh Nhai,

Thái Nguyên có mỏ Làng Cẩm, Phấn Mễ, Âm Hồn,

Hòa Bình có mỏ Đồi Hoa,

Ninh Bình có mỏ Đầm Đùn, Đồng Giao,

Nghệ An có mỏ Khe Bố,

 

Chất lượng than :

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Độ ẩm ( % )

W pt

2,30

7,40

Độ tro   (% )

A k

14,29

24,87

Chất bốc  (%)

V k

26,66

32,69

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

7435

8117

Lưu huỳnh  (%)

S chg

0,77

2,04

 

X

28

38

 

Y

 

12

 

 

Chất lượng than Bitum là khá tốt.

Trữ lượng và tiềm năng của than Bitum đạt khoảng 20- 23 triệu tấn.

Than Bitum hiện nay được khai thác khoảng 0,2- 0,3 triệu tấn /năm,

nhưng nhu cầu đòi hỏi của ngành luyện kim cần khoảng 5-6 triệu tấn/năm.

 

 

IV. Than Antraxit

Than Antraxit là loại than có trữ lượng và tiềm năng lớn của Việt Nam. Than Antraxit được phân bố gần như khắp miền Bắc và miền Trung nước ta.Các mỏ than Antrxit được tiến hành tìm kiếm – thăm dò khá kỹ và được chia làm 2 loại nhóm mỏ:

 

Nhóm mỏ I: gồm các mỏ thuộc bể than Quảng Ninh, các mỏ này:

- Được thăm dò phần nông từ lộ vỉa đến – 150 có nơi đến  -300m,

- Và được khảo sát- tìm kiếm từ -300m đến đáy tầng than.

Tổng trữ lượng và tiềm năng ước đạt được:

1. Từ lộ vỉa   ÷  -  300m   đạt   3.773 triệu tấn.

2. Từ    -300 ÷   -1000m   đạt   5.361 triệu tấn.

 

Chất lượng than rất tốt:

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Trung bình

Độ ẩm ( % )

W pt

3,23

4,66

3,80

Độ tro   (% )

A k

16,70

20,70

17,50

Chất bốc  (%)

V k

7,10

8,19

7,62

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

8120

8510

8300

Lưu huỳnh  (%)

S chg

0,54

0,55

0,54

Cacbon  (%)

Cc

91,40

93,08

91,89

Hydro  (%)

H c

3,63

4,12

4,,03

Tỉ trọng

d

1,49

1,60

1,52

 

Than Antraxit Quảng Ninh hàng năm khai thác khoảng 50 triệu tấn, đáp ứng cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Với khoảng 9.000 triệu tấn than còn lại của bể than Quảng Ninh có thể đáp ứng các yêu cầu về sản xuất than của cả nước trong một số năm.

 

Nhóm mỏ II: gồm các mỏ than Antraxit nằm ngoài bể than Quảng Ninh, phân bố ở các tỉnh từ miền Bắc đến miền Trung nước ta như : mỏ than Quán Triều (Thái Nguyên) Làng Vọ (Hòa Bình), Việt Thái (Nghệ An), Đồng Đỏ (Hà Tĩnh), Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa (Quảng Nam_ Đà Nẵng).... các mỏ này phần lớn đã được tìm kiếm thăm dò, có tổng trữ lượng, tiềm năng khoảng 100 triệu tấn.

Chất lượng than của các mỏ này khá tốt , đáp ứng được cho các nhu cầu  của công nghiệp đia phương và dân sinh.


Kết luận:

1.     Than Bùn của nước ta có thể sử dụng làm phân bón cho nông nghiệp.

2.     Khai thác các ruộng than Bùn cần cân nhắc kỹ, vì sau khi khai thác ruộng đó sẽ không canh tác và nuôi trồng thủy sản được.

3.     Các mỏ than Lignit nhỏ , các mỏ than Bitum, các mỏ than Antraxit nhỏ...có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu của công nghiệp địa phương và dân sinh.

4.     Bể than Quảng Ninh có tổng trữ lượng và tài nguyên còn lại, có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế của cả nước trong một số năm. Vì vậy cần tiến hành các công tác địa chất cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu của thiết kế khai thác.

5.     Bể than Đồng bằng Sông Hồng tuy có tiềm năng rất lớn, nhưng nay, do điều kiện khai thác khó khăn, nên sau này hãy xem xét khả năng  sử dụng nó.

 

Người viết

 

Nguyễn Sỹ Quý – Nguyễn Đồng Hưng

 

 

Các tài liệu tham khảo:

 

1/. Tài liệu Qui hoạch phát triển Nghành than Việt Nam  - Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản VN.

2/. Các Báo cáo địa chất TK- TD than    Lưu trữ Địa chất.

3/. Tạp chí địa chất  Lê Đỗ Bình, Nguyễn Trọng Khiêm và n.n.k.

 

Last Updated on Friday, 17 February 2012 08:18
 


Page 37 of 41

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay550
mod_vvisit_counterHôm qua1720
mod_vvisit_counterTuần này5836
mod_vvisit_counterTuần trước2055
mod_vvisit_counterTháng này7891
mod_vvisit_counterTháng trước7914
mod_vvisit_counterTất cả7056587

We have: 21 guests, 1 bots online
IP của bạn là :: 54.227.76.35
 , 
Today: May 23, 2019

Liên kết Website


Thời Tiết

Thăm dò ý kiến bạn đọc

Theo bạn, website của tổng hội cần ?
 

canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search