Phổ Biến Kiến Thức

Phổ Biến Kiến Thức

Than

TỔNG QUAN VỀ TIỀM NĂNG THAN VIỆT NAM
TS. Nguyễn Sỹ Quý- KS. Nguyễn Đồng Hưng

Tóm tắt:

Than VN có bốn loại:than bùn, than lignit, than bitum và than antraxit.Các mỏ than bùn, lignit, bitum và antraxit có trữ lượng và tiềm năng nhỏ. Các mỏ than bùn, lignit dưới đồng bằng có tiềm năng lớn, nhưng khó khai thác.Bể than antraxit Quảng Ninh có trữ lượng và tiềm năng lớn có thể đáp ứng yêu cầu của sản xuất trong nước và xuất khẩu.

Than Việt Nam gồm 4 loại Than Bùn, than Lignit, Than Bitum, Than Antraxit.

 I.Than Bùn:

Than Bùn thường nằm ngày trên mặt hay nằm sâu dưới mặt đất, trong trầm tích Đệ Tứ.

Diện tích các ruộng than bùn thường từ vài trăm mét vuông, đến vài hecta hoặc vài trăm kilomet vuông.

Chiều dày các lớp than bùn thường dày từ vài centimets đến vài mét (Có thể dày tơi 5-6m).

 

Chất lượng than bùn:

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Trung bình

Độ ẩm         ( % )

W pt

7,50

17,14

12,80

Độ tro          (% )

A k

10,80

50,50

25,50

Chất bốc       (%)

V k

38,68

70,00

50,00

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

2841

5370

4360

Cacbon          (%)

Cc

4,60

43,29

17,29

Oxy               (%)

Oo

10,20

16,28

12,30

Hydro            (%)

Hc

1,40

3,84

2,20

Nito                (%)

Nc

0,40

2,00

1,20

Lưu huỳnh      (%)

S chg

0,42

3,75

1,70

Photpho         (%)

P

0,0004

0,0196

0,001

 

P2O5

0,04

0,26

0,16

 

K2O

0,10

1,18

0,30

 

pH

3,60

6,00

4,50

 

Tổng tiềm năng than bùn dự báo có khoảng 7100 triệu m3., trong đó :

Dưới đồng  bằng Nam Bộ có khoảng                               5.000 triệu m3.

Dưới đồng  bằng  Bắc Bộ có khoảng                                1.650 triệu m3.

Dưới đồng bằng ven biển Miền Trung  có khoảng              450 triệu m3.

 

Tuy tiềm năng than bùn lớn, nhưng việc khai thác sử dụng cần tính toán cẩn trọng. Vì sau khi khai thác các ruộng than bị nhiễm axit mùn cây , làm cho không thể trồng trọt và chăn nuôi thủy sản được.

II.Than Lignit:

Than Lignit Việt Nam phân bố ở các mỏ than Na Dương (Lạng Sơn), Nà Cáp (Cao Bằng), Hang Mon (Sơn La), Bố Hạ (Bắc Giang), Đôn Phục (Nghệ An), Bảo Lộc (Lâm Đồng) và bể than Đồng bằng sông Hồng (Viết tắt ĐBSH).

Các mỏ than trên hầu hết là các mỏ nhỏ, đã được tìm kiếm – thăm dò, có tổng trữ lượng và tiềm năng đạt khoảng 110 triệu tấn .

Riêng bể than ĐBSH có tổng tiềm năng đạt khoảng 210 tỉ tấn. Bể than có một diện tích nhỏ (25 km2) – là mỏ than Bình Minh, đã được thăm dò sơ bộ,  trữ lượng của mỏ đạt  khoảng 373 triệu tấn.

Chất lượng than Lignit của các mỏ nhỏ, do có hàm lượng lưu huỳnh cao, nên không dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp mà chỉ dùng làm nhiên liệu sinh hoạt hoặc cho các nhà máy điện.

 

- Chất lượng của than ĐBSH khá tốt:

 

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Trung bình

Độ ẩm ( % )

W pt

8,93

28,50

17,68

Độ tro   (% )

A k

2,48

35,35

11,84

Chất bốc  (%)

V k

31,32

48,31

42,86

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

3961

7150

6022

Lưu huỳnh  (%)

S chg

0,35

0,71

0,59

Mêtan  (%)

CH4

 

 

25,20

Hydro  (%)

H 2

 

 

9,10

Tỉ trọng

d

1,32

1,43

1,35

 

-         Điều kiện địa chất thủy văn và điều kiện địa chất công trình:

Dự tính lưu lượng nước chảy vào mỏ là 20.000 m3/h và đất đá vách trụ vỉa than chủ yếu là bột kết sét kết mềm yếu, không ổn định; các lớp cát kết bở rời chứa nước.

 

Vì vậy, nếu tiến hành khai thác than ĐBSH sẽ gặp rất nhiều khó khăn trở ngại về ĐCTV, ĐCCT và ảnh hưởng rất nhiều đến  môi sinh, môi trường.

 

 

 

III. Than Bitum

Than Bitum được tìm kiếm thăm dò ở 13 mỏ :

Điện Biên có mỏ Thanh An,

Sơn La có mỏ Suối Bàng, Mường Lựm, Na Sang, Nà Sung, Quỳnh Nhai,

Thái Nguyên có mỏ Làng Cẩm, Phấn Mễ, Âm Hồn,

Hòa Bình có mỏ Đồi Hoa,

Ninh Bình có mỏ Đầm Đùn, Đồng Giao,

Nghệ An có mỏ Khe Bố,

 

Chất lượng than :

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Độ ẩm ( % )

W pt

2,30

7,40

Độ tro   (% )

A k

14,29

24,87

Chất bốc  (%)

V k

26,66

32,69

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

7435

8117

Lưu huỳnh  (%)

S chg

0,77

2,04

 

X

28

38

 

Y

 

12

 

 

Chất lượng than Bitum là khá tốt.

Trữ lượng và tiềm năng của than Bitum đạt khoảng 20- 23 triệu tấn.

Than Bitum hiện nay được khai thác khoảng 0,2- 0,3 triệu tấn /năm,

nhưng nhu cầu đòi hỏi của ngành luyện kim cần khoảng 5-6 triệu tấn/năm.

 

 

IV. Than Antraxit

Than Antraxit là loại than có trữ lượng và tiềm năng lớn của Việt Nam. Than Antraxit được phân bố gần như khắp miền Bắc và miền Trung nước ta.Các mỏ than Antrxit được tiến hành tìm kiếm – thăm dò khá kỹ và được chia làm 2 loại nhóm mỏ:

 

Nhóm mỏ I: gồm các mỏ thuộc bể than Quảng Ninh, các mỏ này:

- Được thăm dò phần nông từ lộ vỉa đến – 150 có nơi đến  -300m,

- Và được khảo sát- tìm kiếm từ -300m đến đáy tầng than.

Tổng trữ lượng và tiềm năng ước đạt được:

1. Từ lộ vỉa   ÷  -  300m   đạt   3.773 triệu tấn.

2. Từ    -300 ÷   -1000m   đạt   5.361 triệu tấn.

 

Chất lượng than rất tốt:

 

Chỉ số phân tích

Ký hiệu

Từ

Đến

Trung bình

Độ ẩm ( % )

W pt

3,23

4,66

3,80

Độ tro   (% )

A k

16,70

20,70

17,50

Chất bốc  (%)

V k

7,10

8,19

7,62

Nhiệt lượng kcal/kg

Q k

8120

8510

8300

Lưu huỳnh  (%)

S chg

0,54

0,55

0,54

Cacbon  (%)

Cc

91,40

93,08

91,89

Hydro  (%)

H c

3,63

4,12

4,,03

Tỉ trọng

d

1,49

1,60

1,52

 

Than Antraxit Quảng Ninh hàng năm khai thác khoảng 50 triệu tấn, đáp ứng cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Với khoảng 9.000 triệu tấn than còn lại của bể than Quảng Ninh có thể đáp ứng các yêu cầu về sản xuất than của cả nước trong một số năm.

 

Nhóm mỏ II: gồm các mỏ than Antraxit nằm ngoài bể than Quảng Ninh, phân bố ở các tỉnh từ miền Bắc đến miền Trung nước ta như : mỏ than Quán Triều (Thái Nguyên) Làng Vọ (Hòa Bình), Việt Thái (Nghệ An), Đồng Đỏ (Hà Tĩnh), Nông Sơn, Ngọc Kinh, Sườn Giữa (Quảng Nam_ Đà Nẵng).... các mỏ này phần lớn đã được tìm kiếm thăm dò, có tổng trữ lượng, tiềm năng khoảng 100 triệu tấn.

Chất lượng than của các mỏ này khá tốt , đáp ứng được cho các nhu cầu  của công nghiệp đia phương và dân sinh.


Kết luận:

1.     Than Bùn của nước ta có thể sử dụng làm phân bón cho nông nghiệp.

2.     Khai thác các ruộng than Bùn cần cân nhắc kỹ, vì sau khi khai thác ruộng đó sẽ không canh tác và nuôi trồng thủy sản được.

3.     Các mỏ than Lignit nhỏ , các mỏ than Bitum, các mỏ than Antraxit nhỏ...có thể khai thác phục vụ cho nhu cầu của công nghiệp địa phương và dân sinh.

4.     Bể than Quảng Ninh có tổng trữ lượng và tài nguyên còn lại, có thể đáp ứng các nhu cầu kinh tế của cả nước trong một số năm. Vì vậy cần tiến hành các công tác địa chất cần thiết nhằm đáp ứng các yêu cầu của thiết kế khai thác.

5.     Bể than Đồng bằng Sông Hồng tuy có tiềm năng rất lớn, nhưng nay, do điều kiện khai thác khó khăn, nên sau này hãy xem xét khả năng  sử dụng nó.

 

Người viết

 

Nguyễn Sỹ Quý – Nguyễn Đồng Hưng

 

 

Các tài liệu tham khảo:

 

1/. Tài liệu Qui hoạch phát triển Nghành than Việt Nam  - Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản VN.

2/. Các Báo cáo địa chất TK- TD than    Lưu trữ Địa chất.

3/. Tạp chí địa chất  Lê Đỗ Bình, Nguyễn Trọng Khiêm và n.n.k.

 

Last Updated on Friday, 17 February 2012 08:18
 

Đá quý

TỔNG QUAN VỀ ĐÁ QUÝ VIỆT NAM

Phạm Văn Long1, Phạm Đức Anh2, Phạm Thị Thanh Hiền3
1.2: Trung tâm Nghiên cứu Kiểm định Đá quý và Vàng
3. Bộ môn Nguyên liệu khoáng, Trường Đại học Mỏ Địa chất

 Tóm tắt

Đá quý Việt Nam được phát hiện lần đầu tiên vào những năm 1980 của thế kỷ trước với các phát hiện ruby, saphia đầu tiên tại Lục Yên vào năm 1987 trong quá trình lập bản đồ địa chất. Tiếp theo là việc phát hiện mỏ ruby Quỳ Châu (Nghệ An) vào những năm 1990 và một loạt các điểm mỏ saphia liên quan với basalt miền nam Việt Nam. Ruby, saphia chất lượng thương phẩm chủ yếu được khai thác trong sa khoáng đi cùng với các khoáng vật khác như spinel, granat (ở các mỏ Lục Yên, Quỳ Châu) và zircon, peridot (miền nam Việt Nam). Đối với đá quý nhóm II phải kể đến aquamarin, beryl, topaz, thạch anh, tektit, fluorit, opal, canxedon, tuamalin, nephrit, amazonit,... cũng lần lượt được phát hiện và khai thác.

Summary

GENERAL OUTLINES OF PRECIOUS STONES IN VIET NAM

Geological researches and surveys in Viet Nam have been indicating a high potential in precious stones in the country.

In the recent decades, numerous gem deposits, especially those of ruby and sapphire, were discovered in different areas. In North Viet Nam, corundum was discovered in the Luc Yen (Yen Bai Province) and Quy Chau (Nghe An Province) areas, in primary deposits distributed in metamorphic rocks and in placer deposits. In secondary deposits, ruby and sapphire are associated with spinel and garnet. In South Viet Nam, sapphire is related to alkaline basalts with blue colour of economic value. Sapphire has been recovered together with zircon and peridote from placers.

Other precious stones exploited in Viet Nam consist of aquamarine, beryl, topaz, quartz crystals (amethyst, citrine, morion), tektites, fluorite, opal, chalcedony, jadeite, nephrite and amazonite. Ruby, sapphire and pearl provide important commercial exchange in the gemstone market in Viet Nam and foreign countries.

CÁC LOẠI ĐÁ QUÝ NHÓM I (RUBY, SAPHIA, KIM CƯƠNG, EMERALD) 
Các mỏ ruby và saphia

Khu vực Yên Bái:

Các phát hiện đầu tiên về khoáng vật corindon vào những năm 50 của thế kỷ 20 do các nhà địa chất phát hiện trong quá trình thành lập bản đồ địa chất 1/500.000 lãnh thổ Việt Nam (do nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương làm chủ biên). Tuy nhiên, khi đó chúng ta mới chỉ biết được đó là khoáng vật corindon bình thường và chưa ai biết được giá trị thực của chúng. Ngay từ thời xa xưa, tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái đã tồn tại một địa danh mang tên chợ Ngọc (khu vực này hiện nay đang nằm dưới lòng hồ Thác Bà) và người ta kể lại rằng những dòng suối chảy qua khu vực trên được bắt nguồn từ Dãy Núi Con Voi chảy xuống khi đó những viên ruby màu đỏ kích thước lớn nằm rải rác dọc theo các dòng suối và người ta thường nhặt về bày trong tủ kính hoặc cho trẻ em chơi. Nếu như có mổ gà, mổ vịt ở khu vực này thì vẫn thỉnh thoảng phát hiện được ruby trong dạ dày của chúng. Cho mãi đến cuối những năm 80 của thế kỷ trước chúng ta mới biệt được giá trị thực của ruby khi mà có những phát hiện lớn tại Lục Yên và người Thái bắt đầu sang Việt Nam để thu mua với giá rất cao.

 

Hình 1. Ruby faxet mỏ Lục Yên (Yên Bái)
Các mỏ ruby thuộc tỉnh Yên Bái nằm rải rác dọc theo quốc lộ 70 kéo dài từ thị xã Yên Bái lên huyện lỵ Lục Yên, với các điểm mỏ nổi tiếng như Tân Hương (nơi khai thác được viên ruby Ngôi sao Việt Nam nặng 2.58kg và hiện được coi là báu vật Quốc gia, một mảnh vỡ nhỏ của viên này nặng 290cts được bán đấu giá năm 1999 với giá 290.000USD), Trúc Lâu (nơi khai thác được viên ruby sao nặng 1.96kg và cũng được coi là báu vật Quốc gia) và Lục Yên (hiện nay các hoạt động khai thác vẫn đang tiếp tục). Tại Tân Hương ta có thể gặp ruby, spinel. Tại Trúc Lâu cũng thường là ruby sao và spinel, còn tại Lục Yên thì ngoài ruby, saphia ta có thể gặp nhiều loại đá quý khác như spinel, tuamalin, amazonit, granat,….

 

Hình 2. Chợ đá quý Lục Yên (Yên Bái)

Mỏ ruby Quỳ Châu:

Mỏ ruby Quỳ Châu được phát hiện vào cuối những năm 80 của thế kỷ 20, và ngay từ thời đầu tiên hoạt động khai thác ồ ạt và trái phép của dân đã diễn ra trên một diện tích rộng thuộc các xã Châu Bình, Châu Hồng,…với các điểm mỏ nổi tiếng như đồi Tỷ (nơi phát hiện được những viên có giá trị tiền tỷ) và đồi Triệu (nơi phát hiện những viên có giá trị tiền triệu) (tên các địa danh này do giới đào đá đặt).

Về mặt chất lượng, ruby mỏ Quỳ Châu thuộc vào loại ruby đẹp nhất trên thế giới (tương đương với ruby mỏ Mogok của Mianma). Màu đẹp, độ bão hoà màu cao và độ tinh khiết cao. Tại đây khai thác được viên ruby nặng 56cts và bán đấu giá được 560.000USD vào năm 1994

Hình 3. Ruby Quỳ Châu (VIGEGO khai thác năm 1996)


Lịch sử khai thác tại khu vực đồi Tỷ mang nhiều đau thương và chết chóc. Vào đầu những năm 90 tại đây mỗi ngày có hang nghìn người từ các nơi kéo đến đào đãi để mong được đổi đời và chúng nằm ngoài tầm kiểm soát của các cơ quan chức năng. Để rồi một vụ sập hầm đau thương đã xảy ra khiến hơn 100 người bị vùi lấp ở độ sâu hơn 80 mét.

Khu mỏ ruby Quỳ Châu (Nghệ An) hiện nay thuộc quyền quản lý của Công ty CP Đá quý và Vàng Hà Nội. Trong thời gian qua, Công ty Hà Nội đã đầu tư vào việc thăm dò lại và xin giấy phép khai thác, có thể trong một vài năm tới mỏ Quỳ Châu sẽ được khai thác lại.

Miền nam Việt Nam

Saphia khu vực Phan Thiết (Bình Thuận)

Mỏ Phan Thiết thuộc tỉnh Bình Thuận, cách Thành Phố Hồ Chí Minh 200km về phía Đông. Tại đây, saphia được khai thác trên hai khu vực chính là Đá Bàn và Ma Lâm.

Khu mỏ Đá Bàn: Vùng mỏ Đá Bàn thuộc xã Hồng Sơn, nằm cách thành phố Phan Thiết 28km về phía đông bắc. Tại đây, saphia được khai thác trong các bậc thềm eluvi và deluvi với độ sâu khoảng 1-2 mét. Saphia ở đây thường có màu lam đậm, lam phớt lục, lục-lam và ít hơn là màu lục nhạt. Saphia vàng ít gặp. Mỏ saphia Đá Bàn được phát hiện đầu tiên vào năm 1992. Tại thời điểm tháng 11/1992 thường xuyên có khoảng từ 2000 đến 3000 người tập trung khai thác trên diện tích khoảng 7km2. Các năm về sau lượng người khai thác giảm dần do mỏ được chuyển về quản lý bởi Tổng Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam và một phần là lượng saphia khai thác được cũng giảm dần. Cho đến nay (năm 2010) vẫn còn một bộ phận nhỏ người dân khai thác trên một vài khu vực. Sản phẩm thu được chỉ là loại saphia có kích thước nhỏ (<1,5cts) và chất lượng thường thấp.

Khu mỏ Ma Lâm: Điểm mỏ Ma Lâm nằm cách thành phố Phan Thiết 20km về phía bắc - tây bắc thuộc xã Hàm Chinh. Cũng giống như mỏ Đá Bàn, saphia ở đây cũng được khai thác trong eluvi và deluvi, nhưng trên một diện tích lớn hơn rất nhiều so với mỏ Đá Bàn. Thời điểm mới phát hiện năm 1992, hàng ngày có hơn 1000 người tập trung khai thác.

Saphia mỏ Di Linh (Lâm Đồng)

Saphia vùng Di Linh được phát hiện tại xã Tiên Cô và Bình Điền (nằm về phía bắc tỉnh Bình Thuận). Mỏ được phát hiện vào những năm 1991 bởi người dân địa phương trong quá trình trồng cà phê. Đầu những năm 1992, khu mỏ Tiên Cô được Công ty Đá quý và Vàng Việt Nam (Vinagemco) tiếp quản và tổ chức khai thác.

Đặc điểm của saphia trong bazan miền nam Việt Nam thường có dạng lăng trụ, lăng trụ tháp hoặc lăng trụ tháp cụt lục phương, phổ biến dạng mảnh vỡ hoặc dạng hạt. Tại các điểm Ngọc Yêu, Đá Bàn, Đăk Nông thường gặp những tinh thể corindon có kích thước lớn, đường kính nhiều khi đến 30-40mm. Về màu sắc chúng thường có màu lam đậm (nhiều khi tới đen), một số màu khác cũng hay gặp như lục, lục lam hoặc lam lục, lục vàng, vàng. Về độ tinh khiết có thể gặp từ trong suốt đến đục, tỷ lệ loại trong suốt thường thấp khoảng 10-15%.

Các mỏ saphia miền nam Việt Nam được phát hiện rộng rãi tại các tỉnh Đak Nông, Lâm Đồng, Bình Thuận, Đồng Nai,…chúng phân bố chủ yếu trong các tầng phong hoá của đá basalt. Tại Đak Nông, Đá Bàn gặp các tinh thể saphia có kích thước lớn (đường kính 30-40mm) với màu lam đậm và các màu khác thường gặp là lục, lục lam,…tại Tiên Cô còn gặp loại saphia màu vàng mật ong. Tỷ lệ loại trong suốt có chất lượng ngọc thường chỉ vào khoảng 1-5%, còn phần lớn chúng là loại không có chất lượng ngọc. Mặc dù kích thước tinh thể lớn nhưng độ trong suốt rất kém và do vậy không thích hợp cho sản xuất hàng trang sức.

Ngoài ra tại các khu vực EaHleo, Đơn Dương, Vân Hoà đôi khi cũng phát hiện được các hạt ruby có kích thước nhỏ, màu đỏ hồng, hồng, da cam. Ruby ở đây có màu khá đẹp độ trong suốt tương đối cao, tuy nhiên kích thước hạt bé nên không thích hợp để làm đồ trang sức.

Trong số các điểm mỏ trên, hiện nay dân địa phương chỉ còn khai thác tại một số khu vực nhất định tại khu vực mỏ Đá Bàn (huyện Hàm Thuận Bắc, tỉnh Bình Thuận) và khu vực mỏ Đak Tôn (huyện Trường Xuân, tỉnh Đak Nông). Lượng saphia khai thác được không nhiều và chủ yếu vẫn là loại chất lượng thấp. Sản phẩm khai thác được thường được bán cho mục đích sản xuất tranh đá quý hoặc bán cho các thương nhân Thái Lan để xử lý nhiệt.

 

 

HÌnh 4. Saphia miền nam Việt Nam (trái) và cảnh khai thác tại suối Đak Tôn (chụp năm 2010)

Kim cương

Cho đến nay vẫn chưa phát hiện đươc kim cương trên lãnh thổ Việt Nam, tuy nhiên các kết quả khảo sát địa chất đã cho thấy các tiền đề về địa chất tại vùng Tây Bắc Việt Nam và một số tỉnh Tây Nguyên. Cụ thể là các biểu hiện của các đá lamproites (lamprophyr kiềm) tại Tây Bắc với các đai mạch kimberlit tại Tây Nguyên.

Vào cuối những năm 90 thê kỷ trước, đề tài tìm kiếm kim cương do Việt Nghiên cứu địa chất và khoáng sản thực hiện đã phát hiện viên kim cương kích thước 2mm vùng Tây Nguyên. Đây là một dấu hiệu quan trọng cho việc khẳng định sự có mặt của kim cương ở Việt Nam.

Emerald

Cũng giống như kim cương, cho đến nay emerald và chrysoberyl vẫn chưa phát hiện được ở Việt Nam tuy nhiên theo các nhà địa chất học thì các thành tạo và cấu trúc địa chất tại một số khu vực thuộc Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) và Mỏ Ngọt (tỉnh Vĩnh Phúc), cũng như một số khu vực tại tỉnh Hà Giang giáp với biên giới Trung Quốc có triển vọng với loại đá quý này.

ĐÁ QUÝ NHÓM II (CÒN GỌI LÀ ĐÁ BÁN QUÝ)

Berin và aquamarin

Các phát hiện đầu tiên của aquamarin và topaz ở Việt Nam là tại Xuân Lẹ (Thường Xuân, Thanh Hoá) vào năm 1985 trong quá trình lập bản đồ địa chất khu vực Bắc Trung Bộ của Liên đoàn địa chất IV. Aquamarin phân bố trong các đai mạch pegmatit có chiều dài hàng trăm mét và chiều rộng từ 0,40m đến 5,0m. Các khóang vật đi kèm bao gồm thạch anh, feldspar kali, plagioclas, muscovit, biotit. Trong các đai mạch pegmatit này còn gặp tuamalin màu đen (loại này đục thường không có giá trị trang sức) kích thước khá lớn, ngoài ra còn gặp topaz và zircon. Aquamarin ở đây thường có dạng tinh thể lăng trụ sáu phương, màu xanh nước biển nhạt đến xanh da trời, trong suốt. Kích thước tinh thể thường có chiều dài từ 5-20cm, đường kính từ 1-6cm. Các sa khoáng chứa aquamarin phát triển rộng rãi trong khu vực và là nơi dân địa phương khai thác.

Hiện nay, aquamarin vẫn được khai thác nhiều nơi, rải rác tại khu vực xã Xuân Lẹ. Người dân địa phương tổ chức thành từng nhóm 7-10 người, với đầy đủ thức ăn và thiết bị khai thác, sau 3-5 ngày họ có thể khai thác được hàng kilogams aquamarin với kích thước và chất lượng khác nhau. Sản phẩm khai thác được thường được các nhà buôn từ Sài Gòn, hoặc Nghệ An mua gom lại để bán cho khách hàng Trung Quốc.

Ngoài Xuân Lẹ, berin, aquamarin còn phát hiện được nhiều trong trong trường pegmatit Thạch Khoán (Vĩnh Phúc). Berin ở đây thường từ trong suốt tới bán trong suốt, kích thước thay đổi mạnh, nhưng thường gặp nhất là kích thước 1-4cm đường kính, chiều dài từ 10-30cm. Cá biệt nhiều khi gặp các tinh thể có kích thước rât lớn, cũng tại đây vào năm 1999 đã phát hiện được một tinh thể berin có trọng lượng 75kg (hiện được trưng bày tại Bảo tàng Địa chất). Các khoáng vật đi kèm có thể gặp gồm tuamalin, thạch anh, mica, granat,…

 

 

Hình 5. Aquamarin mỏ Xuân Lẹ (Thường Xuân, Thanh Hoá)

Topaz

Đi cùng với aquamarin là topaz chúng cũng phát triển trong các thân mạch pegmatit. Theo tài liệu của các nhà địa chất (năm 1995) trữ lượng topaz tại mỏ Xuân Lẹ ước chừng khoảng 41,53 tấn. Topaz thường có kích thước khá lớn, bị rạn nứt mạnh do quá trình vận chuyển trong sa khoáng. Màu sắc thường là không màu, đôi khi gặp màu vàng nhạt khá thích hợp cho việc sản xuất hàng trang sức.

Trong những năm gần đây, topaz vẫn được khai thác nhiều cùng với aquamarin tại khu vực Xuân Lẹ.

Ngoài ra, một loạt các điểm topaz khác cũng được phát hiện tại Bảo Lộc (Lâm Đồng) và một số khu vực khác tại Yên Bái.

Tuamalin

Các kết quả khảo sát địa chất đã phát hiện được các thân pegmatit chứa tuamalin tại Lục Yên (tỉnh Yên Bái), tuy nhiên tuamalin có giá trị trang sức lại được khai thác chủ yếu trong sa khoáng, còn bản thân tuamalin phát triển cùng với thạch anh, mica và đôi khi là topaz trong các thân mạch pegmatit lại có chất lượng ngọc rất thấp (chỉ thích hợp cho mẫu sưu tập). Trong sa khoáng tuamalin có chất lượng ngọc được khai thác cùng với ruby, saphia tại các bãi bồi aluvi, chúng có màu sắc rất đa dạng lục, nâu, vàng, hồng và đen. Một đặc điểm hay gặp của tuamalin ở đây là tính phân đới màu. Theo chiều dài tinh thể ta gặp các màu hồng, tím và lục vàng xen kẽ nhau, và theo lát cắt ngang từ trong ra ngoài ta cũng gặp tính phân đới tương tự. Tỷ lệ tuamalin để mài faxet là rất thấp, hầu hết chúng thích hợp cho mài cabochon hoặc điêu khắc, số còn lại làm mẫu sưu tập.

 

Hình 6. Tuamalin Lục Yên, Yên Bái

Năm 2008 một loạt các phát hiện tuamalin tại Bắc Kạn. Tuamalin ở đây thường có màu hồng nhạt, lục nhạt và đen. Nhiều khi cũng gặp các tinh thể có tính phân đới màu giống tuamalin Lục Yên. Độ trong suốt thường từ bán trong tới đục và cũng không thích hợp cho việc mài faxet.

Vào năm 2009 phát hiện tuamalin màu hồng (rubelit) tại Khai Trung và Tân Lập (Lục Yên), tuy nhiên chúng thường bị rạn nứt mạnh và tỷ lệ ngọc thường không cao. Màu sắc và chất lượng của tuamalin Tân Lập khá giống với tuamalin vùng Bắc Kạn.

Spinen

Spinen chất lượng ngọc được khai thác cùng với sa khoáng ruby và saphia tại Lục Yên, Tân Hương (Yên Bái) và Quỳ Châu (Nghệ An). Tại Tân Hương và Quỳ Châu thường gặp spinen có màu đỏ, hồng đỏ tới hồng, độ trong suốt cao kích thước tinh thể khá lớn và rất thích hợp cho việc làm hàng trang sức. Trong các sa khoáng tại Lục Yên cũng gặp loại spinen có màu đỏ và hồng đỏ, tuy nhiên nhiều khi ta cũng gặp loại spinen có màu đỏ phớt nâu hoặc màu lam (rất dễ nhầm với saphia).

Trong đá gốc gặp các tập đá hoa chứa spinen phát triển rộng rãi tại mỏ Lục Yên. Spinen thường có màu đỏ, đỏ phớt nâu, nâu phớt tím. Tinh thể dạng bát diện, kích thước tinh thể rất thay đổi từ 0,5cm tới 4-5cm, đục và ít có giá trị trang sức chỉ thích hợp làm mẫu sưu tập. Các khoáng vật đi cùng với spinen bao gồm pagasit, humit, dolomit,…Trong những năm gần đây, một lượng lớn spinen trong đá gốc được khai thác dùng làm mẫu sưu tập và làm đá cảnh, đá trang trí. Các sản phẩm tinh thể vụn có kích thước nhỏ được tận dụng để sản xuất tranh đá quý.

 

 

 

Hình 7. Spinen các màu mỏ Lục Yên và spinel trong đá gốc được dùng làm đá cảnh, đá trang trí

Zircon

Zircon được khai thác nhiều trong các sa khoáng liên quan tới basalt  miền nam Việt Nam và chúng thường đi kèm với saphia tại Kon Tum, Đak Lak, Gia Lai, Lâm Đồng và Bình Thuận. Chúng thường là không màu, nâu nhạt, đỏ nâu, cam nhạt và đôi khi có màu vàng nhạt. Loại kích thước bé độ trong suốt thường cao hơn loại kích thước lớn. Kích thước các tinh thể thường gặp từ 0,2cm – 1,5cm.

Peridot

Peridot được khai thác chủ yếu tại hai mỏ Hàm Rồng và Biển Hồ (Lâm Đồng), chúng thường có màu lục olive tới màu lục vàng với kích thước tinh thể nhiều khi tới 2x4x4cm. Tuy nhiên loại thường gặp nhất là từ 0,6-1,5cm. Trong sa khoáng peridot thường có độ rạn nứt cao, tỷ lệ sử dụng để sản xuất hàng trang sức khoảng 15-20%, số còn lại thường có kích thước nhỏ hoặc rạn nứt mạnh thích hợp cho sản xuất tranh đá quý.

 

Hình 8. Peridot mỏ Hàm Rồng

Thạch anh, opan, canxedon

Các biến thể thuộc nhóm thạch anh được phát hiện tại nhiều nơi, nhưng chủ yếu cũng là liên quan tới  các trường pegmatit lớn. Thạch anh pha lê và thạch anh ám khói được khai thác nhiều tại Xuân Lẹ (Thanh Hoá), Thạch Khoán (Vĩnh Phúc) và Kỳ Sơn (Nghệ An). Thạch anh màu tím (ametit) gặp nhiều tại Đơn Dương (Lạng Sơn) và Gia Lai tuy nhiên chúng thường có kích thước nhỏ và màu nhạt. Thạch anh đen (morion) gặp ở Lộc Tân (Lâm Đồng). Thạch anh hồng được khai thác nhiều tại Đà Nẵng và một số tỉnh Tây Nguyên và chúng thích hợp cho việc sản xuất hàng mỹ nghệ.

Opan, canxendon được khai thác nhiều tại một số tỉnh Tây Nguyên (Gia Lai, Lâm Đồng, Kon Tum,…). Tỷ lệ opan thường rất ít, và chúng thường có màu không đẹp cũng như độ trong suốt không cao. Canxedon gặp nhiều hơn và gặp ở nhiều màu khác nhau: trắng đục, nâu, vàng, lục xám, đỏ,…và các dải màu xen kẽ nhau. Kích thước các khối canxendon nhiều khi tới hang tấn hoặc hang chục tấn.

Trong những năm gần đây một khối lượng lớn loại này đã được khai thác và sử dụng làm mẫu trưng bày, đá phong thuỷ, tỷ lệ dùng được để sản xuất hàng trang sức rất thấp.

 

Hình 9. Canxedon Tây Nguyên

 

Ngọc trai

Việt Nam có vùng biển dài và rất thích hợp cho việc nuôi cấy ngọc trai. Hiện nay, ngọc trai được nuôi cấy chủ yếu tại Hạ Long (Quảng Ninh), Cát Bà (Hải Phòng), Nha Trang (Khánh Hoà), Phú Quốc (Kiên Giang).

Về màu sắc, ngọc trai nuôi cấy tại các vùng biển của Việt Nam thường có màu trắng, vàng nhạt. Một số nơi tại Phú Quốc đó cho ngọc trai màu đen giống loại ngọc trai vùng Biển Bắc. Kích thước viên ngọc thường 5-8mm, loại lớn hơn 9mm hiếm hơn.

 

 

 

 

Hình 10. Xưởng cấy ngọc Công ty Taiheju Shinju


Một số loại đá quý khác

Jadeit và nephrit: Ngọc jadeit và nephrit đó được phát hiện tại Cò Phương (Sơn La), trong các đá biến chất cao thuộc cấu trúc sông Mó. Tuy nhiờn về chất lượng chúng thường có màu xấu (lục rất nhạt đến trắng đục) và chứa nhiều bao thể tạp chất, thích hợp cho việc sản xuất hàng mỹ nghệ điêu khắc, việc làm hàng trang sức thì hầu như không thể.

Tektit: Tektit được phát hiện nhiều nơi ở Việt Nam từ bắc đến nam. Loại kích thước lớn thường được tỡm thấy tại Kon Tum, Lâm Đồng và Phú Quốc. Một số khu vực tại biên giới giữa Việt Nam và Lào cũng là những nơi phát hiện nhiều tektit.

 

Fluorit: Fluorit được khai thác nhiều tại hai khu vực là Xuân Lãnh (Phú Yên) và Đông Pao (Lai Châu). Về màu sắc chúng thường có màu lục nhạt, tím nhạt hoặc các màu xen kẽ giữa chúng. Kích thước các tinh thể nhiều khi tới 10cm độ trong suốt từ bán trong tới đục. Loại trong suốt có thể mài faxet để sản xuất hàng trang sức, loại đục thường được dùng để làm tranh đá quý.

 

Amazonit: Là biến thể màu lục của nhóm feldspat gặp nhiều trong các thân pegmatit vùng Lục Yên (Yên Bái) chúng thường đi cùng với tổ hợp khoáng vật tuamalin, thạch anh và mica. Kích thước các tinh thể nhiều khi tới 5-10cm chiều ài và 3-4 cm đường kính. Loại trong suốt có thể mài faxet để sản xuất hàng trang sức, loại đục thường được làm mẫu sưu tập hoặc mài cabochon, điêu khắc mỹ nghệ.

KẾT LUẬN

Cho đến nay các loại đá quý có giá trị kinh tế cao đã phát hiện được ở Việt Nam là ruby, sapphire, spinel, aquamarine, topaz. Những loại đá quý này phân bố trên những vùng sinh khoáng khác nhau ở miền bắc Việt Nam như ruby, spinel trong đá hoa thuộc các hệ tầng đá biến chất dọc theo đứt gãy sông Hồng. Topaz, aquamarin trong các thành tạo pegmatit liên quan đến các đá magma axit các tỉnh Thanh Hóa và Vĩnh Phúc. Tại miền nam Việt Nam, các loại đá quý có giá trị kinh tế phải kể đến là sapphir, zircon, peridot được thành tạo liên quan đế các đá basalt tuổi Kainozoi. Trong các khu vực này, nhiều các điểm đá quý mới được phát hiện nhưng chưa có sự đầu tư để thăm dò chi tiết. Bên cạnh đó, những năm gần đây, một lượng lớn đá canxedon được khai thác tại nhiều tỉnh Tây Nguyên để phục vụ mục đích trang trí, mỹ nghệ và phong thủy. Tuy nhiên việc quản lý của Nhà nước đối với loại đá quý này vẫn còn bỏ ngỏ, gây thất thoát không nhỏ.

Một số loại đá quý khác có quy mô nhỏ hơn và phát hiện được ở nhiều nơi như tuamalin, thạch anh, tektit, peridot cũngcó một vai trò khá quan trọng cho ngành công nghiệp đá quý Việt Nam.

Với một dải bờ biển dài hơn 3000km và có nhiều vũng, vịnh kín là nơi thích hợp cho nuôi cấy ngọc trai. Tuy nhiên việc đầu tư và phát triển ngành này vẫn chưa được đầu tư nhiều và có thể nói đó là một sự lãng phí lớn đối với những điều kiện mà thiên nhiên ban tặng cho đất nước chúng ta.

 

Trải qua gần 30 năm, ngành công nghiệp đá quý và trang sức của Việt Nam đang ngày một định hình và phát triển dựa trên nguồn tài nguyên sẵn có. Ngoài những loại đá quý có giá trị cao để làm xuất khẩu và làm hàng trang sức thì người dân Việt Nam đã biết tận dụng các mảnh vụn, các viên đá quý nhỏ để làm tranh đá quý và sản xuất các sản phẩm mỹ nghệ. Điều này đã tạo ra một lượng lớn công ăn việc làm cho người lao động, không những tận dụng được nguồn tài nguyên quý giá mà cọn mang lại một hiệu quả kinh tế cao.

Hình 11. Tranh đá quý được sản xuất từ những mảnh vụn của nhiều loại đá khác nhau

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Ngọc Quân và nnk (1998), Báo cáo nghiên cứu xác lập các tiền đề địa chất và dấu hiệu tìm kiếm đá quý, bán quý trong trầm tích biến chất cao dải bờ trái sông Hồng, Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản.

 

2. Nguyễn Kinh Quốc (Chủ biên) và nnk (1995), Nguồn gốc, quy luật phân bố và đánh giá tiềm năng đá quý, đá kỹ thuật Việt Nam, Báo cáo tổng kết Đề tài KT 01-09, Viện Nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản.

 

3. Nguyễn Kinh Quốc và nnk (1995), Tiềm năng đá quý Việt Nam, Báo cáo Hội nghị KHĐC lần thứ 3, Hà Nội.

 

4. Trần Xuân Toản, Nguyễn Hữu Tý (1995), Địa chất và nguồn đá quý miền Nam Việt Nam, Báo cáo Hội nghị KHĐC lần thứ 3, Hà Nội.

 

5. Phạm Văn Long (2003), Nghiên cứu đặc điểm tinh thể khoáng vật học và ngọc học của ruby, saphia hai vùng mỏ Lục Yên (Yên Bái) và Quỳ Châu (Nghệ An), Luận án Tiến sĩ Địa chất, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên.

 

6. Phạm Văn Long, Virginie Garnier, Gaston Giuliani, Daniel Ohnenstetter, Hoàng Quang Vinh, Phan Trọng Trịnh, Dietmar Schwarz (2004), “Gem corundum deposits in Vietnam”, Journal of Gemmology, 29(3), p. 129-147.


7. Phạm Văn Long, Hoàng Quang Vinh, Virginie Garnier, Gaston Giuliani, Daniel Ohnenstetter (2004), “Marble-hosted ruby from Vietnnam”, Canadian Gemmologist, 25(3), p. 83-94.



8. Pham Van Long, Hoàng Quang Vinh, Virginie Garnier, Gaston Giuliani, Daniel Ohnenstetter, (2004), “Gemstones in Vietnam: a Review”, Australian Gemologists, Vol.24.


Last Updated on Saturday, 18 February 2012 11:08
 

Dầu khí



TỔNG QUAN VỀ DẦU KHÍ VIỆT NAM

TS Ngô Thường San, TSKH Trần Lê Đông, TS Nguyễn Huy Quý
(Hội dầu khí Việt Nam)

 

Tóm tắt 

Sau khi điểm qua lịch sử tìm kiếm thăm dò, khai thác dầu khí và những thành tựu mà nghành dầu khí Việt Nam đạt được, báo cáo trình bày một cách chi tiết đặc trưng cấu trúc địa chất, hệ thống dầu khí các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam như Sông Hồng, Phú Khánh, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay – Thổ Chu, Tư Chính-Vũng Mây, nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa với tiềm năng dầu khí của chúng khoảng 4,3 - 6,0 tỷ tấn dầu quy đổi. Báo cáo đặc biệt nhấn mạnh rằng việc phát hiện các mỏ dầu lớn trong móng granitoit nứt nẻ trước Đệ tam, là thân dầu không tiền lệ về mặt cấu trúc, về đặc trưng thấm chứa, về cơ chế hình thành, về mức độ và phân bố sản phẩm…, đã tạo bước ngoặc lịch sử và mở ra hướng tìm kiếm thăm dò dầu khí mới, vô cùng quan trọng ở bể Cửu Long nói riêng và ở thềm lục địa Việt Nam nói chung, là động lực hấp dẫn các công ty dầu khí thế giới ồ ạt đầu tư trở lại Việt Nam.

Một trong những thành tựu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn là đã đề xuất và áp dụng được hệ thống khai thác phù hợp mà quan trọng nhất là giải pháp bảo tồn áp suất vỉa thân dầu trong móng granitoit nứt nẻ bằng bơm ép nước, làm lợi cho hai nhà nước Việt Nam và Liên Bang Nga hơn 15 tỷ USD.

Báo cáo kết thúc với những thách thức và đề xuất  nhằm tạo cơ sở vững chắc đảm bảo an toàn năng lượng trong tương lai, phục vụ cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế biển, đảm bảo quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, an ninh quốc phòng.

 

SUMMARY

GENERAL OUTLINES OF PETROLEUM RESOURCES IN VIET NAM

Dr. NGO THUONG SAN, Dr.Sci. TRAN LE DONG, Dr. NGUYEN HUY QUY

Petroleum Society of Viet Nam

After a brief outline on the history of petroleum prospecting, exploration, exploitation and achievements of the Petroleum Branch, this paper presents detailed characteristics of geological structure and petroleum system of Tertiary sedimentary basins in Viet Nam, such as: Red River, Phu Khanh, Cuu Long, South Con Son, Malaya-Tho Chu, Tu Chinh - Vung May Basins, Paracel and Spratly Basin Groups with a petroleum potential of about 4.3-6.0 milliards tons of converted oil.

The discovery of large oil fields in the cracked bedrock of pre-Tertiary granitoids that is a newly found oil body in the structural side, in permeable and bearing characteristics, forming mechanism and level of distribution of products, etc. has been creating a historical turning point and opening a new direction of prospecting and exploration of petroleum, very important in the Cuu Long Basin in particular, and in the Vietnamese continental shelf in general. This is a motive force attracting foreign petroleum companies to invest to Viet Nam.

One of achievements of great scientific and practical significance is to suggest and apply a suitable system of exploitation, in which the most important solution is to conserve the seam pressure of oil body in the cracked granitoid bedrock by pumping water that brought forth a sum of 15 milliards USD to the two Viet Nam and Russia nations.

The paper finishes with challenges and suggestions, aiming to form a firm basis for guaranteeing the security of energy in the future, serving the sustainable development of the marine economy, guaranteeing the national sovereignty and jurisdiction on the sea, and the defense security.

Ngày 27 tháng 11 năm 2011 Tập đoàn Dấu khí quốc gia Việt Nam (PVN) đã long trọng kỹ niệm 50 năm ngày truyền thống của mình. Kể từ ngày 27 tháng 11 năm 1961 khi đoàn địa chất 36 trực thuộc Tổng cục địa chất được thành lập cho đến nay, ngành dầu khí đã có những bước tiến vượt bậc trong hoạt động của mình, đã xây dựng được một ngành dầu khí khá hoàn chỉnh bao gồm 5 lĩnh vực quan trọng, nòng cốt là tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí; Chế biến dầu; Công nghiệp khí; Công nghiệp điện và Dịch vụ kỹ thuật dầu khí. Chỉ tính riêng năm 2011, PVN đạt sản lượng khai thác  23,91 triệu tấn dầu quy đổi, doanh thu đạt 675,3 nghìn tỷ đồng, nộp ngân sách nhà nước đạt 160,8 nghìn tỷ đồng, chiếm tới 70%  tổng nộp ngân sách của các công ty, tập đoàn nhà nước. Đây là con số cực kỳ có ý nghĩa trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang gặp khó khăn [ 4].

Trong báo cáo này chúng tôi chỉ đề cập đến một trong 5 lĩnh vực quan trọng là tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí ở trong nước Việt Nam.

Công tác tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí được tiến hành cả trên đất liền (đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cữu long) và trên biển.

Trên đất liền công tác tìm kiếm dầu khí được tiến hành từ những năm 60 của thế kỹ trước ở đồng bẳng sông Hồng. Ở trên biển, từ năm 1967-1970 đầu tiên là cơ quan hải quân Mỹ (US Navy Ocenographic office), tiếp đến là các công ty Alpine Geophysical Corporation, Ray Geophysical Mandrel đã tiến hành khảo sát địa chấn tổng hợp với từ, trọng lực trên toàn thềm lục địa Nam Việt Nam, Nam Biển Đông và Vịnh Thái Lan, sau đó công ty GSI đã tiến hành khảo sát 5000km tuyến địa chấn 2D khu vực biển miền Trung và quần đảo Hoàng Sa.Trong các năm 1973-1974 các công ty Pecten, Mobil Oil, Sunningdale, Esso, BHP, Marathon, OMO…  đã tiến hành khảo sát địa vật lý chi tiết trên 17 lô. Kết quả khoan tìm kiếm thăm dò đã phát hiện dầu khí trên cấu tạo Dừa, phát hiện dòng dầu công nghiệp đầu tiên từ tầng Miocen với lưu lượng  2400 thùng dầu/ngày trên mỏ Bạch Hổ.

Sau khi được thành lập (ngày 03/09/1975) Tổng cục Dầu Khí Việt Nam đã đẩy mạnh công tác tìm kiếm thăm dò từ bể An Châu, vùng trũng Hà Nội đến Đồng bằng sông Cửu Long và trên thềm lục địa phía Nam. Luồng không khí mới tràn vào ngành dầu khí chỉ sau khi Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt Xô (Vietsovpetro) khai thác tấn dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ, vào tháng 06 năm 1986. Cùng với chính sách mở cửa, đổi mới của Đảng, việc phát hiện ra thân dầu đặc biệt trong đá móng granitoit mỏ Bạch Hổ (năm 1988) không những đưa nước ta trở thành nước xuất khẩu dầu đứng thứ 03 vùng Đông Nam Á mà còn là đòn bẩy hấp dẫn các công ty dầu khí đầu tư tìm kiếm thăm dò dầu khí trở lại. Đến nay, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam đã ký được 87 Hợp đồng dầu khí với các công ty dầu khí của Mỹ, Nhật, Nga, Anh, Malaysia, Ấn độ, Canada, Úc…..trong đó 60 Hợp đồng dầu khí đang còn hiệu lực bao gồm 46 Hợp đồng phân chia sản phẩm (PSC), 10 Hợp đồng điều hành chung (JOC), 03 Hợp đồng POC, 01 Hợp đồng Hợp tác kinh doanh (BCC) và 01 hợp đồng hợp tác 2 bên với tổng vốn đầu tư hơn 14 tỷ USD [5].

Trong những năm qua, ngành dầu khí Việt Nam đã tiến hành công tác tìm kiếm thăm dò với  khối lượng rất lớn như khảo sát trên 107 nghìn km tuyến địa chấn 2D, 65 nghìn km2 địa chấn 3D, khoan hơn 980 giếng tìm kiếm, thăm dò, thẩm lượng và khai thác với tổng số mét khoan trên 3,3 triệu m. [5].

Kết quả phân tích, tổng hợp các số liệu thực tế đã xác định được sự tồn tại, làm sáng tỏ đặc trưng cấu trúc địa chất, hệ thống dầu khí các bể trầm tích Đệ tam của Việt Nam như bể Sông Hồng, bể Phú Khánh, bể Cữu Long, bể Nam Côn Sơn, bể Malay-Thổ Chu, bể Tư Chính-Vũng Mây và nhóm bể Trường Sa và Hoàng Sa   [2]. Tuy nhiên do đặc điểm hình thành và phát triển riêng của từng bể trầm tích nên chúng có đặc điểm cấu trúc, địa tầng trầm tích cũng như các điều kiện về sinh, dịch chuyển và hình thành các tích tụ dầu khí của mỗi bể có khác nhau.

Đến nay các nhà địa chất dầu khí đã phát hiện và xác định được tiềm năng dầu khí ở các bể trầm tích Đệ tam khoảng 4,3 - 6,0 tỷ tấn dầu quy đổi [3].

Công tác tìm kiếm thăm dò trong thời gian qua đã phát hiện ra hàng loạt mỏ dầu khí có giá trị công nghiệp ở các bể trầm tích khác nhau. Nhiều mỏ đã được đưa vào khai thác như  mỏ Bạch Hổ, cụm mỏ Rồng, Rạng Đông, Phương Đông, Ruby, Sư Tử Đen, Sư Tử Vàng, Cá Ngừ Vàng, Tê Giác Trắng bể Cữu long; Các mỏ  Đại Hùng, Rồng Đôi/Rồng Đôi Tây, Lan Tây - Lan Đỏ ở bể Nam Côn Sơn; Các mỏ Cái Nước, Sông Đốc (bể Malay-Thổ Chu) và mỏ khí Tiền Hải ở bể Sông Hồng.

Đến thời điểm 01 tháng 01 năm 2012 Việt Nam đã khai thác trên 253 triệu tần dầu và hơn 72 tỷ m3 khí [ 6]. Ngoài ra còn nhiều mỏ khác đã được phát hiện và chuẩn bị đưa vào khai thác.

Đặc trưng nổi bật của Việt Nam là sự hiện diện các mỏ dầu trong móng granitoit nứt nẻ trước Đệ tam, mà tiêu biểu là mỏ Bạch Hổ đã được phát hiện năm 1986 và đưa vào khai thác từ tháng 9 năm 1988. Sau Bạch Hổ đã phát hiện và đưa vào khai thác hàng loạt mỏ dầu khác trong móng ở bể Cữu Long như Đông Rồng, Đông Nam Rồng, Nam Rồng – Đồi Mồi, Phương Đông, mỏ Sư Tử Đen, mỏ Sư Tử Vàng, mỏ Rạng Đông,  mỏ Cá Ngừ Vàng, mỏ Sư Tử Nâu, mỏ Thăng Long, mỏ Hải Sư Đen, mỏ Hổ Xám…với trữ lượng dầu và sản lượng dầu khai thác, tính đến 01/01/2012,  chiếm trên 80% tổng trữ lượng dầu đã xác minh và tổng sản lượng dầu đã khai thác của Việt Nam.

Các mỏ dầu trong móng granitoit nứt nẻ trước Đệ tam cũng đã được phát hiện ở bồn trũng Nam Côn Sơn (mỏ Đại Hùng, Thiên Ưng, Bồ Câu, Chim Sáo..), ở bồn trũng Sông Hồng (Hàm Rồng) và dự đoán sẽ phát hiện các mỏ dầu khí tương tự ở các bồn trũng khác nữa.

Như vậy sự tồn tại các mỏ dầu khí trong móng granitoit nứt nẻ trước Đệ Tam mang tính chất phổ biến ở  thềm lục địa Việt Nam.

Kết quả nghiên cứu cho thấy,thân dầu trong đá móng granitoit là thân dầu không tiền lệ về mặt cấu trúc, về đặc trưng thấm chứa, về cơ chế hình thành cũng như  về mức độ và phân bố sản phẩm [2,7].

a .Không tiền lệ về mặt cấu trúc. Các thân dầu trong đá móng granitoit có cấu trúc dạng khối, được tạo bởi các thành hệ magma khác nhau, đặc trưng bởi mức độ bất đồng nhất cao về thành phần thạch học và tuổi khác nhau, phân bố xuyên cắt và phủ chờm lên nhau

b. Không tiền lệ về đặc trưng thấm chứa. Khác với đá trầm tích lục nguyên với dạng độ rỗng giữa hạt, đối với đá móng granitoit với cấu trúc không gian lỗ hổng chủ yếu thuộc dạng nứt nẻ, hang hốc. Mô hình đá chứa bao gồm những đới không gian lỗ rổng khác nhau, bao gồm:

- Đới nứt nẻ macro bao gồm các mặt nứt nẻ lớn, song song, định hướng, đặc trưng bởi khả năng thấm thuỷ động lực có độ thấm biến đổi trong phạm vi lớn từ vài chục millidarcy đến hàng ngàn millidarcy, độ rỗng có nơi đạt tới trên dưới 10%.

- Đới nứt nẻ micro bao gồm các nứt nẻ nhỏ, bất định hướng, phát triển dọc theo và giữa các mặt nứt nẻ lớn, nối liền chúng, cung cấp chất lưu cho chúng, đặc trưng bởi khả năng thấm mao dẫn, dao động trong khoảng một, hai milidarcy hoặc nhỏ hơn, độ rỗng không vượt quá 3%. Đới nứt nẻ micro không trực tiếp cho dòng chảy chất lưu từ đá chứa vào giếng, nhưng lại là đới chứa quan trọng chiếm tới 60% tỷ phần không gian lỗ hổng;

- Hệ thống hang hốc phát triển dọc theo và giữa các mặt nứt nẻ lớn, mở rộng, nối thông chúng, được hình thành bởi quá trình thủy nhiệt, qua các mặt nứt nẻ lớn, xảy ra sau hàng chục triệu năm.

- Đới đá matrix rắn chắc không bị phá hủy. Chiều dày của đới này dao động từ vài mét cho đến hàng trăm mét. Đây là đới đá không có khả năng thấm chứa.

Do mức độ nứt nẻ và hang hốc khác nhau nên đặc trưng thấm chứa của đá móng nứt nẻ cũng có mức độ bất đồng nhất rất cao. Theo độ sâu độ rỗng thứ sinh của thân dầu trong móng có xu hướng giảm dần, tuỳ theo từng mỏ, từng nơi, độ sâu thấp nhất tồn tại nứt nẻ quan sát được ở nhiều mức độ khác nhau.

c. Không tiền lệ về cơ chế hình thành. Quá trình phá hủy kiến tạo làm hình thành hệ thống đứt gãy kiến tạo, đặc biệt là đứt gãy chờm nghịch, toàn bộ khối móng nâng bị dập vỡ và hình thành hai hệ thống nứt nẻ cắt chéo nhau.Theo các mặt nứt nẻ, theo thời gian, hệ thống hang hốc được hình thành và biến đổi bởi quá trình thứ sinh, kết hợp với hệ thống nứt nẻ tạo thành hệ thống không gian lỗ hổng có khả năng thấm chứa cao. Được hình thành trong các đới sinh dầu khác nhau, hydrocacbon dịch chuyển và tích tụ thành thân dầu trong móng..

d. Không tiền lệ về mức độ về phân bố sản phẩm. Đối với các thân dầu trong đá móng granitoit, do độ thấm có thể đạt tới hàng ngàn millidarcy và chiều dày đạt tới trên dưới 1000m, nên mức độ cho sản phẩm của giếng biến đổi trong phạm vi lớn, từ vài chục tấn đến trên 1000 tấn dầu ngày đêm.

e. Không có tiền lệ về sự phân bố dầu khí. Trong thân dầu của móng có thể tồn tại nhiều ranh giới dầu nước, không phải là một mặt phẳng mà phụ thuộc vào sự phân bố của đới nứt nẻ. Chẳng hạn, trong 6 khối của thân dầu móng mỏ Bạch Hổ thì đã phát hiện 6 ranh giới dầu nước ở các độ sâu khác nhau. Sự hiện diện của dầu trong phức hệ magma Ankroet nhiều hơn trong các phức hệ Định Quán và Hòn Khoai v.v.

Nếu như trước đây, vì  cho rằng tầng móng Trước Đệ Tam là không có triển vọng về mặt dầu khí, nên đối tượng tìm kiếm thăm dò dầu khí chính ở thềm lục địa Nam Việt Nam là lớp phủ trầm tích Đệ Tam và các giếng khoan tìm kiếm dầu khi đều kết thúc khi bắt gặp tầng móng, thì khi sau phát hiện dầu khí trong móng nứt nẻ với sản lượng lớn, đối tượng tìm kiếm thăm dò chính ở bể Cửu Long là đá granitoit Trước Đệ Tam. Như vậy việc  phát hiện các thân  dầu trong đá móng granitoit đã làm thay đổi quan điểm truyền thống, mở ra một hướng tìm kiếm - thăm dòdầu khí mới ở Việt Nam.

Việc phát hiện ra thân dầu trong móng nứt nẻ trước Đệ tam đã là việc làm khó khăn, nhưng làm thế nào để khai thác thân dầu này với hiệu quả kinh tế và hệ số thu hồi dầu khí cao nhất, bảo vệ tốt môi trường sinh thái, trong hoàn cảnh đây là thân dầu đặc biệt, không có mỏ tương tự, chưa có tiền lệ, trên thế giới chưa có kinh nghiệm, là công việc khó khăn hơn nhiều.

Một trong những thành tựu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn to lớn của PVN là đã đề xuất được hệ thống khai thác phù hợp mà quan trọng nhất là giải pháp bảo tồn áp suất vỉa thân dầu trong móng granitoit nứt nẻ bằng bơm ép nước.

Xuất phát từ kết quả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trên mỏ kết hợp với  mô phỏng vỉa cho thấy thân dầu trong móng ngoài những đặc điểm không tiền lệ như tầng chứa nứt nẻ đặc trưng bởi 2 độ rỗng, 2 độ thấm, thuộc lại ưa nước và trong móng có sự giao thoa theo nhiều phương, nhiều hướng khác nhau. Đây là những cơ sở khoa học vững chắc để đưa ra các nguyên tắc chính trong giải pháp là bơm đúng lúc, bơm đúng chỗ và bơm đúng khối lượng [2,7].

Bơm đúng lúc: Kết quả nghiên cứu cho thấy đối với tầng móng khi gia tăng lực nén hiệu dụng thì độ rỗng và độ thấm giảm và ngược lại khi giảm dần lực nén hiệu dụng thì độ rỗng và độ thấm cũng phục hồi nhưng chỉ phục hồi được khoảng 60% - 70% giá trị ban đầu. Do vậy cần chọn thời điểm bảo tồn áp suất thích hợp không để cho tính chất thấm chứa của móng giảm quá nhiều so với ban đầu, mới bắt đầu bơm ép. Theo kinh nghiệm thực tế thì cần tiến hành bơm ép sớm, không để áp suất vỉa suy giảm thấp hơn áp suất bão hòa.

Bơm đúng chỗ: Kết quả mô hình hóa trong phòng thí nghiệm cho thấy, hệ số đẩy dầu bằng nước đạt 0,862 khi tiến hành bơm ép vào phần dưới của mô hình, cao hơn nhiều so với việc bơm vào giữa (bằng 0,67) và vào phần trên (bằng 0,633). Do đó, bơm đúng chỗ là bơm vào phần đáy của vỉa dầu, đặc biệt đối với thân dầu trong móng mỏ Bạch Hổ, nơi không phát hiện nước vỉa, thì bơm ở vị trí càng sâu càng tốt không những nhằm tạo nước đáy nhân tạo để đẩy dầu từ dưới lên mà còn tạo khoảng cách cần thiết giữa đới bơm ép và đới khai thác để kéo dài giai đoạn khai thác không có nước trong sản phẩm của các giếng khai thác.

Bơm đúng khối lượng là cần lựa chọn khối lượng nước bơm ép và áp suất bơm ép phù hợp để có thể đẩy dầu bằng nước không những từ trong nứt nẻ macro mà còn từ nứt nẻ micro, tạo điều kiện thuận lợi để nước bơm ép phân bố một cách đồng đều trong móng và ranh giới dầu nước nhân tạo được nâng lên từ từ. Đây là yếu tố vô cùng quan trọng, cần theo dõi thường xuyên trong quá trình thực hiện nhằm điều chỉnh kịp thời khối lượng bơm ép nâng cao hiệu quả khai thác.

Nhờ giải pháp bơm ép nước nhằm bảo tồn áp suất vỉa đối với thân dầu trong móng mỏ Bạch Hổ mà hệ số thu hồi dầu khí tăng từ 18% bằng phương pháp khai thác sử dụng năng lượng tự nhiên lên tới 43% (theo dự đoán năm 2008). Đến thời điểm 01/01/2012 HSTHDK của thân dầu này đã đạt tới 32,87%. Có nghĩa là nhờ giải pháp bơm ép nước mà đã khai thác bổ sung được khoảng 75 triệu tấn dầu. Sau khi trừ đi các khoản chi phí khác, với giá dầu trung bình 300,8 USD/tấn (là giá dầu bình quân của mỏ Bạch Hổ trong giai đoạn 1987 – 2011) thì lợi nhuận mang lại, nhờ áp dụng giải pháp này, khoảng hơn 15 tỷ USD.

Có thể thấy rằng  giải pháp bảo tồn áp suất vỉa bẳng bơm ép nước không những là đóng góp quan  trọng cho khoa học và công nghệ dầu khí mà còn  mang lại hiệu quả kinh tế vô cùng to lớn cho Tổ quốc.

Việc tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí trong thời gian tới ngoài những lợi thế, tiềm năng nêu trên còn phải đối mặt với nhiều thách thức lớn như:

1.Công tác tìm kiếm thăm dò dầu, khí trong thời gian tới phải tiến hành chủ yếu ở vùng nước sâu (sâu hơn 200 mét nước) xa bờ (cách bờ hơn 200km) rủi ro cao nhưng đòi hỏi kỹ thuật - công nghệ tiên tiến, cán bộ với chuyên môn giỏi và đầu tư lớn.

2.Mặc dù có tiềm năng rất lớn về khí nhưng với hàm lượng H2S và CO2 cao lại phân bố ở vùng nhạy cảm về chính trị sẽ gây khó khăn trong khai thác và sử dụng chúng.

Để thực hiện được chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2025 là đẩy mạnh công tác khảo sát, điều tra cơ bản, tìm kiếm thăm dò nhằm gia tăng trữ lượng và sản lượng khai thác dầu khí; phấn đấu gia tăng trữ lượng dầu khí đạt 35 đến 45 triệu tấn quy dầu/năm, sản lượng khai thác dầu khí đạt 23 đến 34 triệu tấn quy dầu/năm, trong đó khai thác dầu ở mức 15 đến 20 triệu tấn/năm và 8,5 đến 14 tỷ m3 khí [1], tạo cơ sở vững chắc đảm bảo an toàn năng lượng trong tương lai, phục vụ cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế biển, đảm bảo quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, an ninh quốc phòng cần phải đầu tư cho ngành dầu khí những thiết bị chuyên dụng để có thể tự mình triển khai công tác tìm kiếm, thăm dò dầu khí trong điều kiện nước sâu, xa bờ như giàn khoan nửa nổi nửa chìm, tàu khảo sát địa chấn 3D, tàu dịch vụ có công suất lớn cùng các thiết bị kỹ thuật – công nghệ tiên tiến đi kèm.

Tài liệu tham khảo

[1]. Chiến lược phát triển ngành dầu khí Việt Nam đến 2015 và định hướng đến 2015. Hà Nội 04/2005.

[2]. Cụm công trình “Tìm kiếm, Phát hiện và Khai thác có hiệu quả các thân dầu trong đá móng granitoit trước Đệ tam bể Cửu Long, thềm lục địa Việt Nam”- Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học và công nghệ năm 2012, theo quyết định số... của Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam.

[3]. Địa chất và tài nguyên dầu khí Việt Nam, NXB KHKT. Hà nội 2005.

[4]. Đỗ Văn Hậu- Vượt qua thử thách, tự tin bước vào năm mới. Báo năng lượng mới – số xuân Nhâm Thìn 2012.

[5]. Hoàng Dũng - Tổng quan công tác Tìm kiếm - Thăm dò Dầu khí của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, ngày 20/01/2011 – Google.

[6]. Petrovietnam tự tin khẳng định vị thế đầu tàu kinh tế quốc gia.Báo năng lượng mới số 90 ngày 31/01/2012.

[7].Trần Lê Đông – “Научные основы технологии разработки гранитоидных коллекторов нефти и газа”. Liên Bang Nga, năm 2008.  Luận án tiến sỹ khoa học.

 

Last Updated on Saturday, 18 February 2012 11:33
 

Tài nguyên Khoáng sản Việt Nam

PGS.TS Nguyễn Khắc Vinh - Chủ tịch Tổng hội Địa chất Việt Nam
SUMMARY
MINERAL RESOURCES OF VIETNAM
Viet Nam is a not large country, but has mineral resources with diversity of nearly 40 kinds (energy, metallic, non-metallic minerals and construction materials). But, Viet Nam is not rich in mineral resources, because most minerals are of small reserves and are scattered in distribution.
Regarding to energy minerals, it is clear that petroleum, coal, uranium and geothermal sources are not large in reserves. Non-metallic minerals and construction materials are large, but they are not of high economic value.
Regarding to metallic minerals, such as gold, silver, copper, lead, zinc, iron, tin, etc., they do not meet the domestic demands in the coming time. Three minerals of large reserves are bauxite, ilmenite and rare earths, but in the world they are also of large reserves.
Mineral resources are an important asset of a nation. Generally, they are non-renewable, so they must be rationally, economically and efficiently exploited and used for the purpose of satisfying the requirements of socio-economically sustainable development of the country.
The Government need to have a policy of merit rewarded for using saving rational minerals and is very strict with violation, waste or loss of mineral resources in the country.

Việt nam là nước có diện tích không lớn nhưng có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú với gần 40 chủng loại từ khoáng sản năng lượng (dầu khí, than, urani, địa nhiệt), khoáng sản không kim loại, vật liêu xây dựng đến khoáng sản kim loại. Tuy nhiên đất nước ta không phải là nước giầu về tài nguyên khoáng sản vì hầu hết các khoáng sản ở Việt Việt Nam có trữ lượng không lớn, lại phân bố tản mạn không tập trung. Cụ thể như sau:

1.     Loại khoáng sản năng lượng;

-  Dầu khí của Việt Nam không nhiều, với sản lượng  khai thác như hiện nay, nếu không phát hiện thêm trữ lượng thì chỉ vài ba chục năm nữa sẽ hết nguồn khai thác.

-         Than ở đất liền cũng đã cạn kiệt dần, đang và sẽ phải nhập mới bảo đảm được nhu cầu tiêu thụ trong nước. Than ở dưới sâu đồng bằng sông Hồng có thể có nhiều, theo số liệu tính toán có thể tới vài trăm tỷ tấn nhưng vấn đề công nghệ trong khai thác rất phức tạp, chưa giải quyết được, nếu có khai thác thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường và an sinh xã hội.

-         Tiềm năng urani và địa nhiệt không đáng kể

2.     Loại khoáng sản không kim loại và vật liệu xây dựng có nhiều nhưng chỉ dùng trong nước. Chúng không phải là loại khoáng sản có giá trị kinh tế cao và trên thế giới cũng không có nhu cầu nhiều

3.     Loại khoáng sản kim loại như vàng, bạc, đồng chì, kẽm, sắt, thiếc, molipden v.v.. ở Việt nam có rất ít không đáp ứng được các nhu cầu trong nước trong thời gian tới. Những loại khoáng sản này thế giới cũng cạn kiệt dần.

4.     Việt Nam có một số loại đá quý như ruby, saphia, peridot nhưng trữ lượng không nhiều. Ta lại không có kim cương – loại đá có giá trị khinh tế rất cao và có nhu cầu rất lớn.

 

Tuy vậy Việt nam cũng có 03 loại khoáng sản có trữ lượng lớn là bauxit, đất hiếm và ilmenit (quặng titan) có trữ lượng lớn, nhưng trên thế giới cũng có nhiều loại này và phải hàng trăm năm thậm chí hàng nghìn năm nữa vẫn chưa dùng hết, Cụ thể:

  • Bauxit thế giới có tài nguyên 55 tỷ tấn, Việt Nam có hơn 5 tỷ tấn), mỗi năm chỉ cần 200 triệu tấn, như vậy 275 năm nữa mới khai thác hết
  • Đát hiếm thế giới có 150 triệu tấn (Việt Nam ́ hơn 10 triệu ), mỗi năm chỉ cần 135.000 tấn, như vậy phải hơn 1000 năm nữa mới hết. Nhưng gần đây Nhật đã phát hiện ở đáy Thái Bình Dương có khoảng 100 tỷ tấn đất hiếm, nếu vậy thì hàng nghìn năm nữa cũng không lo thiếu đất hiếm.
  • Quặng titan thế giới có khoảng 2 tỷ tấn (Việt Nam dự báo có khoảng 600 triệu tấn), hàng năm thế giới chỉ cần hơn 6 triệu tấn, như vậy cũng phải hàng trăm năm nữa mới hết. Gần đây Paraguay đã phát hiện khoảng 20 tỷ tấn, như vậy hàng nghìn năm nữa cũng không lo thiếu quặng titan.

Kết kuận: Việt Nam không giàu về tài nguyên khoáng sản, những thứ khoáng sản thiết yếu mà thế giới cần như dầu khí, vàng, kim cương v.v.. thì Việt nam có rất ít hoặc không có. Một số thứ khoáng sản Việt Nam có nhiều như bauxit, đất hiếm, quặng titan thì thế giới cũng có nhiều, đảm bảo tiêu thụ hàng trăm năm thậm chí đến hàng nghìn năm nữa.

CHIẾN LƯỢC VỀ CHÍNH SÁCH SỬ DỤNG TIẾT KIỆM HỢP LÝ NHẤT TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

Cần có chiến lược về chính sách sử dụng tiết kiệm hợp lý nhất tài nguyên khoáng sản của đất nước để đảm bảo phát triển bền vững bảo vệ môi trường, an sinh xã hội

Tổng kết 13 năm thực hiện luật Khoáng sản (1996-2009) và trên thực tế đã thấy rất rõ: khai thác tài nguyên khoáng sản tràn lan, nhiều nơi vô tổ chức đã không những làm thất thoát lớn nguồn tài nguyên mà còn ảnh hưởng xấu đến cơ sở hạ tầng làm xuống cấp rất nhanh hệ thống đường xá, cầu cống, phá hủy môi trường sống, nẩy sinh nhiều tệ nạn xã hội cho địa phương nơi có mỏ.

Trong 13 năm cấp Trung ương đã cấp 353 giấy phép khai thác mỏ, cấp địa phương cấp tới 3822 giấy phép khai thác mỏ. Các tỉnh cấp giấy phép khai thác mỏ nhiều nhất là Bình Thuận (200), Vĩnh Long (155), Yên Bái (152), Cao Bằng (142), Lâm Đồng (136), Nghhệ An (126), Lai Châu (124), Lao cai (121), Thanh Hóa (101)…Chưa kể nạn quặng tặc hoành hành ngang nhiên ở các tỉnh miền núi như các báo đã đăng tải.

Nhiều loại khoáng sản như đồng, chì kẽm, antimon, than v.v.. xuất thô tiểu ngạch sang nước ngoài làm thất thoát đáng kể và cạn kiệt tài nguyên khoáng sản của đất nước.

Xin kiến nghị:

1/ Nghiêm chỉnh chấp hành luật khoáng sản sửa đổi thực thi từ ngày 1 tháng 7 năm 2011.

2/ Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xiết chặt việc cấp giấy phép khai thác mỏ. Thậm chí cần hạn chế và tiến tới cấm khai thác xuất khẩu khoáng sản Việt nam không có nhiều như khoáng sản kim loại để dành tiêu thụ trong nước

3/ Song song với công tác nêu trên, để đảm bảo cho nhu cầu xây dựng và phát triển đất nước, đề nghị Chính phủ rà soát tổng thể lại các quy hoạch đối với từng loại khoáng sản, có kế hoạch khai thác sử dụng khoáng sản hợp lý phục vụ cho phát triển kinh tế trước mắt và lâu dài tránh tình trạng khai thác tràn lan, xuất khẩu khoáng sản thô không qua chế biến, xuất khẩu "tiểu ngạch" dẫn đến nạn " than thổ phỉ", "quặng tặc" ...làm lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản của đất nước.

4/ Khoáng sản là tài nguyên hầu hết không tái tạo được, không phải là vô tận, là tài sản quan trọng của quốc gia, là nguồn lực góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước, đề nghị Chính phủ có chính sách khen thưởng xứng đáng cho việc sử dụng tiết kiệm, hợp lý khoáng sản và có chế tài xử phạt nghiêm khắc các hành vi vi phạm, lãng phí, thất thoát tài nguyên khoáng sản trong hoạt động khoáng sản.

 

 

 

 


Last Updated on Monday, 20 February 2012 06:02
 

Titan-ziercon

TÀI NGUYÊN QUẶNG TITAN, ZIRCON
 TS. TRẦN TÂT THẮNG1, ThS. TRẦN VĂN THẢO2
1Tổng hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội
2Liên đoàn Địa chất Trung Trung Bộ, 613 Nguyễn Thái Học, TP Quy Nhơn

Tóm tắt: Theo nguồn gốc, và đặc điểm phân bố, quặng titan và zircon tập trung trong ba kiểu mỏ:
1. Các mỏ sa khoáng titan và zircon ven biển gồm: sa khoáng trong tầng cát bở rời tuổi Holocen và sa khoáng trong tầng cát đỏ gắn kết tương đối tốt tuổi Pleistocen.
2. Các mỏ quặng titan là phần vỏ phong hóa của các khối đá gabro chứa xâm tán ilmenit.
3. Mỏ quặng titan  gốc trong các khối đá xâm nhập mafic.
Các mỏ quặng titan, zircon phân bố tương đối tập trung trong các vùng: Bình Thuận, Ninh Thuận, dải ven biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế, dải ven biển từ Quảng Nam đến Khánh Hòa và vùng Đại Từ, Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Tài nguyên quặng titan và zircon của Việt Nam là rất lớn. Các mỏ có hàm lượng trung bình và nghèo nhưng chất lượng quặng tốt, có điều kiện khai thác thuận lợi, chi phi khai thác, tuyển quặng thấp, phân bố trong các vùng có cơ sở hạ tầng thuận lợi. Tài nguyên quặng titan và zircon đã biết là đủ để phát triển bền vững công nghiệp khai thác, chế biến quặng titan và zircon có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sản xuất được các sản phẩm đa dạng, có giá trị cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
 
TITANIUM AND ZIRCON ORE RESOURCES
 
Abstract
 
Genetically, titanium ores are concentrated in three types of deposits:
1. Coastal placer deposits, consisting of coastal placers in sand formation of marine and eolean geneses aged Holocene  and those in relatively well consolidated sand formation aged Pleistocene;
2. Titanium deposits in the weathering crust of gabbro massifs containing disseminated ilmenite;
3. Primary ilmenite  ore deposits in mafic intrusive rocks.
Titanium and zircon ore deposits are of relatively high concentration in coastal areas of Binh Thuan, Ninh Thuan provinces, from Thanh Hoa to Thua Thien - Hue, from Quang Nam to Khanh Hoa, as well as inland in Dai Tu, Phu Luong areas of Thai Nguyen province.
The titanium and zircon ore resources of Vietnam are great.  The deposits are of medium and low grade but of favorable mining conditions, low mining and ore processing costs, located in areas with favorable infrastructure. The known titanium and zircon ore resources present sufficient basis for sustainable development of large scale, modern titanium and zircon ore mining and processing industry, which is able to produce diversified and high value products meeting the demands for domestic use and export.
 
Trong hơn 60 năm qua ngành Địa chất Việt Nam đã điều tra, phát hiện và làm rõ được tài nguyên của nhiều loại khoáng sản trên phần lãnh thổ. Kết quả điều tra trong các năm gần đây cho thấy Việt Nam có nguồn tài nguyên quặng titan và  zircon rất lớn, góp phần quan trọng để phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, phát triển kinh tế-xã hội của một số địa phương nói riêng và cả nước nói chung.
I. Mức độ điều tra, thăm dò và khai thác
Cho đến nay, quặng titan đã được điều tra tương đối chi tiết. Kết quả điều tra đã khoanh định các diện tích lớn chứa quặng bao gồm các dải sa khóang ven biển miền Trung kéo dài từ Thanh Hóa đến phần bắc Bà Rịa - Vũng Tàu, vùng Đại Từ, Phú Lương thuộc tỉnh Thái Nguyên và Sơn Dương thuộc tỉnh Tuyên Quang.
Nhiều mỏ quặng titan đã được thăm dò và đang khai thác với quy mô khác nhau. Đến năm 2011 đã có 32 doanh nghiệp khai thác trong Hiệp hội Titan. Đến  31/12/2010 có 47 giấy phép khai thác còn hiệu lực (13 giấy phép do Bộ Công nghiệp và Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp, 34 giấy phép do UBND các tỉnh cấp). Thực tế khai thác trong các năm 2009-2010 dao động 500.000 đến 700.000 tấn tinh quặng/ năm. Một số nhà máy luyện xỉ titan, xưởng nghiền mịn zircon đang hoạt động. Tuy nhiên, công suất không cao và công nghệ chế biến còn thấp, chưa thu hồi được triệt để khoáng vật quặng trong cát.
II. Các kiểu mỏ quặng titan
Theo nguồn gốc và đặc điểm phân bố, quặng titan phân bố tập trung trong ba kiểu mỏ:
1. Các mỏ sa khoáng ven biển gồm các loại:
- Sa khoáng ven biển trong tầng cát nguồn gốc biển và gió tuổi Holocen
- Sa khoáng ven biển trong tầng cát đỏ gắn kết tương đối tốt tuổi Pleistocen.
2. Các mỏ quặng titan là phần vỏ phong hóa của các khối đá gabro chứa xâm tán ilmenit.
3. Mỏ quặng titan gốc gồm các mạch quặng giàu ilmenit trong các khối đá xâm nhập mafic.
Trong số các kiểu mỏ này các mỏ sa khoáng ven biển trong tầng cát đỏ gắn kết tương đối tốt tuổi Pleistocen có tài nguyên và trữ lượng lớn nhất, còn các mỏ sa khoáng ven biển trong tầng cát nguồn gốc biển và gió tuổi Holocen có điều kiện khai thác thuận lợi nhất và hiện nay đang được khai thác với sản lượng tương đối lớn.
III. Các vùng mỏ quặng titan
Các mỏ quặng titan, zircon phân bố tương đối tập trung trong các vùng: Bình Thuận, Ninh Thuận, dải ven biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên Huế, dải ven biển từ Quảng Nam đến Khánh Hòa và vùng Đại Từ, Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
III.1. Vùng Bình Thuận
Là vùng có tài nguyên quặng titan lớn nhất Việt Nam. Quặng chủ yếu nằm trong tầng cát đỏ gắn kết tương đối tốt, có tuối Pleistocen, hệ tầng Phan Thiết, một phần tài nguyên nhỏ hơn phân bố trong trong cát nguồn gốc biển và gió tuổi Holocen. Tầng cát đỏ hình thành trong các bồn trũng ven biển, hiện nay phân bố rộng rãi trên diện tích kéo dài từ nam mũi Cà Ná, huyện Tuy Phong đến vùng Long Hải thuộc Bà Rịa – Vũng Tàu có bề rộng thay đổi từ 500 m đến 15 km kể từ bờ biển hiện đại (Hình 1, 2). Phần lớn tầng cát đỏ lộ ngay trên bề mặt địa hình, một phần nhỏ bị phủ bởi các tích tụ Holocen. Bề mặt địa mạo tương đối thoải, độ cao thay đổi từ 40 đến > 200 m so với mực nước biển.
Thành phần tầng cát đỏ tương đối đồng nhất, chủ yếu là cát hạt trung đến mịn, chứa khoảng 10,0 đến ~20,0% sét. Màu sắc: đỏ nâu, đỏ thẫm, đỏ tươi ở phần trên, nhạt dần ở phần dưới và chuyển qua màu xám vàng, xám sáng, bị nén khá chặt, gắn kết yếu đến vừa; khi bị phong hoá có màu nhạt dần gồm: vàng, vàng phớt đỏ, vàng. Bề dày của tầng hien tại từ vài chục mét đến >190 m.
Bề mặt đáy tầng cát đỏ tương đối thoải hoặc dạng nhấp nhô với biên độ nhỏ. Tuy nhiên, một số ít nơi có bề mặt khá lồi lõm, phức tạp. Các đá gốc gồm: ryolit, granit.
Thân quặng titan trong tầng cát đỏ có quy mô rất lớn, có hình thái đơn giản, nằm ngang, bao gồm tòan bộ mặt cắt của tầng cát đỏ hoặc thành các thấu kính lớn có diện tích đến hàng chục km2, có bề dày thay đổi đến 90 m, giữa các thấu kính có xen kẹp một số thấu kính, lớp cát chứa quặng nghèo có bề dày thay đổi đến 26,0 m.
Thành phần khoáng vật quặng bao gồm nhóm khoáng vật titan: ilmenit + rutil + anatas + leucoxen và zircon, ngoài ra còn có monazit, brookit với hàm lượng thấp. Các khoáng vật phi quặng khác như turmalin, monazit, granat, stavrolit, biotit, epiđôt, limonit, hematit, sét – clorit,  thạch anh, felspat.
Trong các thân quặng các khoáng vật titan và zircon xâm tán khá đều (Bảng 1).  Theo các lỗ khoan hàm lượng tổng khoáng vật quặng có ích dao động từ 0,26% đến 1,45%, trung bình 0,5%, trong đó hàm lượng khoáng vật zircon dao động từ 0,030% đến 0,215%; trung bình 0,076% (chiếm 15,2% so với tổng khoáng vật quặng). Các khoáng vật quặng có kích thước hạt tương đối nhỏ: phân bố chủ yếu trong cấp hạt -1 +0,074 mm (94,21 %), trong đó: phần sạn (>1 mm): 0,12%, cát hạt lớn (-1+0,5 mm): 7,59%, cát hạt vừa (-0,5+0,355 mm): 20,10%, cát hạt nhỏ (-0,355+0,125): 62,37%, bột (-0,125+0,074 mm): 4,15%, sét (<0,074 mm): 5,67%.
Bảng 1. Thống kê đặc điểm biến đổi sa khoáng theo chiều sâu tại một số công trình

Số hiệu lỗ khoan

Số mẫu thống kê

Bề dày quặng (m)

Hàm lượng  KVN (%)

Lớn nhất

nhỏ nhất

Trung bình

LK.46/45

63

122,5

1,097

0,060

0,586

LK.46/46

62

128,3

1,016

0,152

0,502

LK.46/47

53

106,0

2,317

0,242

0,686

LK.46/48

54

115,6

0,995

0,234

0,444

LK.46/49

53

113,0

1,496

0,147

0,496

LK.46/50

56

111,5

0,903

0,254

0,549

LK.46/51

52

112,5

1,352

0,142

0,651

LK.46/52

48

112,6

0,919

0,233

0,666

LK.46/53

55

109,5

1,080

0,135

0,635

LK.46/54

49

106,3

0,856

0,143

0,682

LK.46/55

44

88,0

1,015

0,292

0,686

LK.46/56

42

71,4

1,174

0,556

0,791

Trên diện tích 782 km2 thuộc tỉnh Bình Thuận đã được Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam điều tra và đánh giá được tài nguyên dự tính 333, tài nguyên dự báo 334a là 558 triệu tấn khoáng vật nặng (Bảng 2). Hàm lượng  khoáng vật nặng có ích trung bình thân quặng từ >0,45% đến  gần 1,0%. Trong đó, hàm lượng zircon chiếm từ 12% đến 20% tinh quặng, trung bình khoảng 15%, tạo giá trị kinh tế cao cho các mỏ. Hàm lượng TiO2 trong tinh quặng ilmenit >50%. Hàm lượng ZrO2 trong tinh quặng zircon >60,2%. Các thành phần có hại trong tinh quặng (Cr2O3, SFe, V, P2O5…) thấp.
Bảng 2.  Tài nguyên quặng titan – zircon trên diện tích 782km2 đã điều tra 2010 (triệu tấn)
Nguyên liệu khoáng
Tài nguyên dự tính cấp 333
Tài nguyên dự báo cấp 334a
Tổng tài nguyên cấp 333 và 334a
Tổng khoáng vật nặng
347,8
210,2
558
Khoáng vật nhóm titan
296,9
182,4
479,3
Zircon
50,9
27,8
78,7
Ngoài ra, còn một phần diện tích khá lớn ngoài diện tích nêu trên, phân bố dọc ven biển, có tầng cát đỏ với bề dày lớn, có hàm lượng quặng tương đối cao chưa được điều tra. Một số diện tích đã được các doanh nghiệp thăm dò (Bảng 2).
Bảng 2. Kết quả thăm dò quặng sa khoáng titan –zircon                               tại dải ven biển Bình Thuận.
Số TT
Doanh nghiệp thăm dò
Tên mỏ/vùng
Diện tích
km2
Trữ lượng cấp 121 và 122 (ngàn tấn)
Tài nguyên cấp 333(ngàn tấn)
Khoáng vật nhóm titan
Zircon
Khoáng vật nhóm titan
Zircon
 
Công ty Phú Hiệp
Long Sơn- Suối Nước
9,9
2.334
439
1.782
307
 
Công ty Tân Quang Cường
Nam Suối Nhum
7,66
2.206
531,9
216,0
43,0
Ngoài ra, còn một số diện tích tại xã Hòa Thắng, Hồng Phong huyện Bắc Bình và  phường Phú Hải, Hàm Tiến thị xã Phan Thiết không ảnh hưởng đến các dự án du lịch đang được dự kiến thăm dò. Khi hoàn thành thăm dò các diện tích nêu trên sẽ xác định được khoảng 10 triệu tấn khoáng vật nặng, trong đó có  khoảng 2 triệu tấn zircon.
Vùng quặng này có điều kiện khai thác thuận lợi bằng phương pháp lộ thiên, bơm hút và tuyển trọng lực ngay tại mỏ. Đặc điểm địa chất thuỷ văn - địa chất công trình của mỏ đơn giản. Khó khăn duy nhất là nguồn nước để đãi rửa quặng không nhiều. Quặng thuộc loại tương đối dễ tuyển, tầng cát dễ bở rời trong nước. Tuyển trọng lực và tuyển từ thu hồi quặng có hàm lượng đến 49,75%. Tuyển điện các sản phẩm không từ có thể thu hồi sản phẩm zircon có hàm lượng ZrO2: 54,02%. Sản phẩm sau tuyển đáp ứng được yêu cầu về chất lượng để cung cấp cho nhà máy sản xuất bột dioxit titan và bột zircon trong nước và xuất khẩu.
III.2. Vùng Ninh Thuận
Tại Ninh Thuận quặng titan phân bố tập trung trên diện tích khỏang 80km2 ở các xã ven biển thuộc hai huyện Ninh Phước và Thuận Nam. Quặng chủ yếu nằm trong tầng cát đỏ gắn kết tương đối tốt, có tuối Pleistocen, hệ tầng Phan Thiết, một phần tài nguyên nhỏ hơn nằm trong tầng cát bở rời nguồn gốc biển và gió tuổi Holocen phân bố sát bờ biển. Tầng cát đỏ này có đặc điểm địa chất và thành phần khoáng vật, hàm lượng khoáng vật nhóm titan và zircon hoàn toàn tương tự như tầng cát đỏ vùng Bình Thuận. Điều khác biệt là bề dày của tầng nhỏ hơn, tối đa là 75m.
Hầu hết diện tích có tầng cát đỏ đã được giao cho các doanh nghiệp thăm dò. Công ty Cổ phần Sài Gòn - Ninh Thuận đã hoàn thành thăm dò trên diện tích 13,61 km2 và đã xác định được trữ lượng cấp 121 và 122 là 4,84 triệu tấn khoáng vật nặng, trong đó có 0,59 triệu tấn tinh quặng zircon (chiếm 12%). Ngoài ra còn dự tính được tài nguyên cấp 333 là 215,8 ngàn tấn khoáng vật nặng. Khi các Công ty Đất Quảng Ninh Thuận, Vinamico, Quang Thuận hoàn thành công tác thăm dò thì trữ lượng khoáng vật nặng của cả vùng sẽ đạt khoảng 16 triệu tấn, trong đó sẽ có khoảng 1,92 triệu tấn zircon.
Vùng quặng này cũng có điều kiện khai thác thuận lợi: bề mặt địa hình tương đối thoải đến bằng phẳng, không có dân cư và đất trồng trọt, khai thác bằng phương pháp lộ thiên, bơm hút và tuyển trọng lực ngay tại mỏ. Đặc điểm địa chất thuỷ văn - địa chất công trình của mỏ đơn giản.
III.3. Dải ven biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế
Trên dải ven biển có chiều dài 550km đã phát hiện, khoanh định, đánh giá 41 thân sa khoáng, phân bố trên các vùng: Hậu Lộc, Sầm Sơn, Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa; Quỳnh Lưu, Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An; Nghi Xuân, Can Lộc - Thạch Hà - Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh; Vĩnh Linh, Cửa Tùng - Cửa Việt tỉnh Quảng Trị; Hải Khê - Quảng Ngạn (từ huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị đến huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế); Kế Sung - Vinh Mỹ (huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên - Huế). Trong số đó các mỏ ở Hà Tĩnh, một số mỏ ở Quảng Trị, Thừa thiên - Huế đang được khai thác.
Sa khoáng titan - zircon chủ yếu phân bố trong trầm tích nguồn gốc biển - gió Holocen, vài nơi trong trầm tích Pleistocen. Các thân quặng riêng biệt có kích thước thay đổi trong khoảng lớn, có thân quặng kéo dài hàng chục kilomet, rộng hàng ngàn mét, có thân chỉ có chiều dài 500-600m, rộng 100-200m. Chiều dày trung bình các thân quặng thay đổi trong khoảng 2-2,5m đến 8,2m. Trong tinh quặng chủ yếu là khoáng vật nặng nhóm titan (ilmenit, leicoxen, anatas, rutil, brukit); ít hơn là zircon.
Ngoài trữ lượng các mỏ sa khoáng đã cấp phép khai thác, tài nguyên sa khoáng  của toàn dải ven biển từ Thanh Hóa đến Thừa Thiên - Huế tập trung chủ yếu ở vùng Hải Khê - Quảng Ngạn và Kế Sung, Vinh Mỹ (tỉnh Thừa Thiên - Huế): 3,55 triệu tấn; Hậu Lộc, Sầm Sơn - Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa): 1,15 triệu tấn.
Các mỏ này có điều kiện khai thác rất thuận lợi bằng phương pháp lộ thiên, cát bở rời trong nước, bơm hút và tuyển trọng lực ngay tại mỏ. Quặng thuộc loại tương đối dễ tuyển.
III.4. Dải ven biển từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa
Trên dải ven biển có chiều dài 440 km đã khoanh định, đánh giá 56 thân sa khoáng phân bố trên 13 vùng: Hội An (Đà Nẵng); Thăng Bình, Bình Sơn (Quảng Nam); Mộ Đức, Đức Phổ (Quảng Ngãi); Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù Cát, Quy Nhơn (Bình Định); Sông Cầu, Tuy An, Tuy Hòa, Bàn Nham (Phú Yên). Sa khoáng phân bố trong trầm tích biển gió Holocen. Kích thước các thân quặng rất khác nhau, chiều dài thay đổi từ 760 m đến 18 km, chiều rộng 100 - 2300 m, bề dày trung bình 2-7,5 m. Hàm lượng khoáng vật nặng có ích trung bình thân quặng thay đổi trong khoảng 0,7 đến 1,8%. Trong tinh quặng hàm lượng nhóm khoáng vật titan (ilmenit, rutil, anatas) ở vùng Đà Nẵng - Quảng Ngãi từ 86 - 90%, zircon 9 - 16%, trong các vùng khác khoáng vật nhóm titan từ  94 - 98%, zircon 1,3 - 5%.
Tổng tài nguyên sa khoáng đã tính được trên toàn diện tích ven biển từ Đà Nẵng đến Khánh Hòa là 18,3 triệu tấn khoáng vật nặng có ích, trong đó tài nguyên 333 là 5,77 triệu tấn. Trong tổng tài nguyên khoáng vật nặng nêu trên, tài nguyên khoáng vật nhóm titan (ilmenit, leicoxen, anatas, rutin) là 17,6 triệu tấn (chiếm 96%), khoáng vật zircon là 0,729 triệu tấn (4%).Ngoài ra, tại các bán đảo Hòn Gốm và Cam Ranh, tại khu kinh té mở Chu Lai, khu kinh tế Nhơn Hội đã ghi nhận có sa khoáng titan-zircon với tài nguyên đáng kể nhưng chưa được điều tra.
Các mỏ này có điều kiện khai thác rất thuận lợi bằng phương pháp lộ thiên, cát bở rời trong nước, bơm hút và tuyển trọng lực ngay tại mỏ. Quặng thuộc loại tương đối dễ tuyển. Hiện nay nhiều mỏ sa khoáng tại Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Nam đang được khai thác.
III.5. Vùng Đại Từ - Sơn Dương
Đã thăm dò mỏ titan Cây Châm ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên. Tại đây đã khoanh định hai thân quặng gốc dạng mạch phân bố trong khối đá xâm nhập mafic có thành phần đa dạng, thay đổi phức tạp. Các mạch quặng có chiều dài đến 700m, dày từ 10 đến 100m, vát nhọn theo chiều sâu. Thành phần quặng gồm ilmenit, pyrit, calcopyrit, pentlandit, pyroxen, thạch anh, felspat. Hàm lượng ilmenit trong thân quặng từ 30 đến 70%. Trữ lượng đã xác định là 2,46 triệu tấn TiO2 (khoảng 4,83 triệu tấn ilmenit). Mỏ đang được khai thác. Công tác điều tra khoáng sản trong các năm qua đã phát hiện, đánh giá được 12 thân quặng titan có nguồn gốc phong hóa từ đá gabro chứa quặng trên các khu Sơn Đầu, Làng Cam, Hữu Sào, Phú Thịnh, Làng Lân, Hái Hoa thuộc các huyện Đại Từ, Phú Lương và Sơn Dương.
 
Hình 1. Diện tích phân bố tầng cát đỏ chứa sa khoáng titan- zircon vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và bắc Bà Rịa-Vũng Tàu
 
Tài nguyên cấp 333 + 334a đã tính được là 4,1 triệu tấn ilmenit, trong đó tài nguyên cấp 333 là 1,56 triệu tấn, bổ sung lượng tài nguyên có quy mô lớn cho vùng mỏ titan Cây Châm, mở ra tiền đề cho điều tra phát hiện các vùng khác có đặc điểm địa chất tương tự không những ở Thái Nguyên, mà còn ở Tuyên Quang, Bắc Kạn. Quặng có hàm lượng cao, ilmenit xâm tán trong tầng vỏ phong hóa mềm bở nên các mỏ có điều kiện khai thác rất thuận lợi. Hiện nay một số diện tích đang được thăm dò, khai thác.
IV. Khả năng phát hiện mới và tăng tài nguyên quặng titan
Trên cơ sở các kết quả điều tra địa chất, khoáng sản hiện có có thể dự kiến được các vùng có khả năng làm tăng đáng kể tài nguyên quặng titan:
- Sa khoáng titan, zircon trong các trầm tích biển ven bờ thuộc Cẩm Xuyên, Nghi Xuân và Kỳ Anh, vùng Bình Thuận và Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Quặng titan trong vỏ phong hóa các đá gabro thuộc phức hệ Núi Chúa, các khối đá gabro - amphibolit thuộc phức hệ Kanack phân bố tại một số diện tích thuộc tỉnh Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Thừa thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Gia Lai và Bình Định.
- Quặng sa khoáng titan, zircon phân bố trong các diện tích thuộc khu kinh tế Chu Lai, các bán đảo Phước Mai (Bình Định) Hòn Gốm và Cam Ranh (Khánh Hòa) đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận, có quy mô đáng kể. Chúng cần được điều tra, thăm dò và quy hoạch khai thác nhanh để giải phóng mặt bằng cho các công trình xây dựng khác.
Kết luận
Kết quả điều tra địa chất, khoáng sản trong các năm qua đã phát hiện và khẳng định tài nguyên quặng titan và zircon của Việt Nam là rất lớn và còn có khả năng bổ sung tài nguyên trong quá trình điều tra tiếp theo. Các mỏ có hàm lượng trung bình và nghèo nhưng có điều kiện khai thác thuận lợi, chi phi khai thác, tuyển quặng thấp, phân bố trong các vùng có cơ sở hạ tầng thuận lợi. Tài nguyên quặng titan và zircon đã biết là đủ cơ sở để xây dựng và phát triển bền vững ngành công nghiệp khai thác, chế biến quặng titan và zircon có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sản xuất được các sản phẩm đa dạng, có giá trị cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Để phát huy được giá trị của nguồn tài nguyên quý này, cần sớm có quy hoạch phát triển công nghiệp khai thác, chế biến quặng titan, zircon bền vững và hợp lý, đảm bảo lợi ích hài hòa của các ngành kinh tế, xây dựng một số khu công nghiệp khai khoáng tập trung với quy mô lớn, công nghệ hiện đại, thực hiện bới các doanh nghiệp có năng lực và trách nhiệm.
 
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHỦ YẾU
1.     Trần Văn Trị và nnk. Địa chất và tài nguyên Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và công nghệ. Hà Nội, 2009.
2.     Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Báo cáo kết quả điều tra, đánh giá tiềm năng sa khoáng titan –zircon trong tầng cát đỏ vùng Ninh Thuận, Bình Thuận và Bắc Bà Rịa –Vũng Tàu. 2010. Lưu trữ Địa chất. Hà Nội.
3.     Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam. Báo cáo thường niên các năm 2008, 2009, 2010.
4.     Hội KHKT Đúc và luyện kim Việt Nam. Báo cáo Hội thảo khoa học Tư vấn phát triển công nghiệp titan Việt Nam. Hà Nội, 3/2011.
 

Last Updated on Friday, 17 February 2012 08:01
 


Page 37 of 40

Thư viện ảnh

No images

Thống kê truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay305
mod_vvisit_counterHôm qua519
mod_vvisit_counterTuần này2072
mod_vvisit_counterTuần trước4937
mod_vvisit_counterTháng này9351
mod_vvisit_counterTháng trước16148
mod_vvisit_counterTất cả6969387

We have: 20 guests online
IP của bạn là :: 54.226.64.30
 , 
Today: Jan 16, 2019

Liên kết Website


Thời Tiết

Thăm dò ý kiến bạn đọc

Theo bạn, website của tổng hội cần ?
 

canakkale canakkale canakkale truva search
canakkale canakkale canakkale truva search