Chữa trị bằng điện từ sinh học

Chữa trị bằng điện từ sinh học

Friday, 27 March 2015 10:31 Admin
| Print |

Lịch sử của phương pháp chữa trị điện từ sinh học

Từ những năm 1890, Tổ chức điện-trị-liệu của Mỹ bắt đầu tổ chức hội nghị thường niên về vấn đề sử dụng điện và các thiết bị điện cho việc chữa trị của các bác sĩ cho những bệnh nhân ốm yếu. 1 số phương pháp cho dòng điện chạy trực tiếp qua người bệnh nhân, 1 số khác lại dùng các thiết bị điện trung gian. Ban đầu, chỉ những thiết bị dùng điện 1 chiều (DC) được dùng tại các phòng khám bệnh để giảm đau và làm dịu những bệnh nhân nữ - những người được chẩn đoán là bị chứng “kích động”.

Vào năm 1985, công ty điện lực Niagara Falls lần đầu tiên cung cấp điện xoay chiều cho Buffalo, NY, cách đó 25 dặm nhờ vào máy phát điện xoay chiều của Nikola Tesla. Các thành phố trên khắp thế giới đã thực hiện theo và khiến cho dòng điện xoay chiều được thương mại hóa và vận chuyển đi khắp nơi cách xa hàng dặm từ máy phát điện. Kết quả là, các thiết bị dùng cuộn điện áp cao Tesla, được dùng trong việc tạo ra dòng điện AC, bắt đầu trở nên nổi tiếng và được áp dụng khắp nơi.

Năm 1898, Tesla xuất bản 1 tài liệu mà ông đã đọc tại hội nghị thường niên lần 8 của Tổ chức điện-trị-liệu Mỹ ở Buffalo, NY với tiêu đề “Các máy dao động tần số cao cho việc điện-trị-liệu và những mục đích khác”. Ông phát biểu rằng: “1 trong những lợi ích đầu tiên theo như quan sát được của dòng điện tần số cao rõ ràng là tính không nguy hiểm, và hoàn toàn khả thi khi cho dòng điện chạy qua người bệnh nhân mà không gây ra đau đớn hay cảm giác khó chịu nào”. Những cuộn dây đường kính đến 3 feet được dùng cho việc điều-trị-từ-trường cơ thể mà không cần tiếp xúc, dòng điện chạy qua từ 10 đến cả trăm ngàn volt. Cách tốt nhất theo Tesla đó là sử dụng quả cầu bằng đồng được bọc trong lớp wax (sáp) làm điện môi cách điện dày 2 inches rồi cho tiếp xúc với bệnh nhân, bằng cách này những cú sốc giật mạnh sẽ được ngăn chặn. Tesla kết luận 1 cách chính xác rằng “các mô chính là những bình ngưng tụ” ở trong tài liệu năm 1898, đó là thành phần cơ bản (điện môi) cho các mạch tương đương được phát triển gần đây cho cơ thể con người. Thật sự, hằng số điện môi liên quan cho các mô tại bất cứ tần số nào từ ELF (10Hz – 100 Hz) đến RF (10kHz – 100MHz) đều vượt quá những điện môi phổ biến trên thị trường. Tính chất đặc biệt này của cơ thể con người chỉ ra rằng bản chất thích nghi và có thể là sự tương thích bẩm sinh với sự xuất hiện của các trường điện cao áp. Theo chúng tôi, có nhiều lý do để cho rằng tính chất này là nhờ khả năng trao đổi điện năng xuyên qua màng tế bào cao sẵn có trong mô tế bào. Tesla cũng chỉ ra rằng kết quả từ việc trị liệu bằng các cuộn dây điện của ông “chắc chắn có lợi ích” nhưng việc thực hiện suốt 1 giờ thì dường như quá nhiều nếu dùng thường xuyên. Điều này vẫn đúng cho đến tận ngày hôm nay đối với các thiết bị trị liệu dùng cuộn Tesla. Vào ngày 6/9/1932, tại 1 buổi hội thảo của Hiệp hội vật lý trị liệu của Mỹ, tổ chức tại New York, tiến sĩ Gustave Kolischer công bố: “Các dòng điện tần số cao của Tesla đang đem lại những lợi ích to lớn trong việc điều trị ung thư, vượt qua mặt phương pháp phẫu thuật thông thường.”

Vào năm 1922, bác sĩ người Nga và nhà sử học Alexander (Gurwitsch) Gurvich (1874-1954) cùng với vợ đã khám phá ra rằng các tế bào sống được phân chia bởi các tấm kiếng thạch anh đã có thể truyền tải những thông tin cần cho sự sống của tế bào. Nhiều thí nghiệm chỉ ra rằng thông tin này được truyền tải bởi các sóng ánh sáng vô hình thuộc quang phổ tia UV đi xuyên qua thạch anh và bị chặn bởi kính thủy tinh. Tiến sĩ Gurvich đã đặt ra các thuật ngữ sóng “mitogenic” “mitotic” (phân bào) bởi vì nó được diễn ra trong suốt các phản ứng enzym và phân bào. “Gurvich khẳng định rằng các mô cơ bắp, giác mạc, máu và hệ thần kinh là những máy phát ra loại năng lượng đặc biệt này.” Công trình nghiên cứu của ông là tài liệu bằng chứng đầu tiên của “biophoton” hay "photon sinh học", các tia sáng liên kết phát ra bởi động vật và các tế bào thực vật, và trở thành cơ sở nền tảng cho việc thiết kế các thiết bị trị liệu điện từ sinh học sau này. Cho đến đầu những năm 1960, Trường ĐH Leningrad đã thành công trong việc bắt giữ những tia mitogenic (tia phân bào) với các ống kính siêu nhạy.

Vào năm 1925, Georges Lakhovsky đã xuất bản 1 tài liệu với tiêu đề là “Chữa trị ung thư với các sóng radio Ultra” trong tạp chí Radio News. Triết lý mà ông muốn nói đến là “độ lớn của các dao động tế bào phải đạt đến 1 giá trị nhất định để các cơ quan có thể đủ mạnh để đẩy lùi những dao động mang tính tàn phá từ các loài vi khuẩn”. Ông ta nói tiếp: “Phương pháp điều trị của tôi không nhắm mục đích giết các vi khuẩn đang tiếp xúc với các tế bào khỏe mạnh mà là tăng cường các dao động của các tế bào bằng cách trực tiếp tăng cường sự hoạt động của máu hoặc kích thích việc sản xuất các tế bào bằng các tia phù hợp”. Thiết bị Radio Cell Oscillator (RCO) của Lakhovsky đã sản xuất ra các  tần số thấp cho đến tận các sóng radio hàng gigahertz với vô số “sóng điều hoa siêu ngắn”. Ông mô tả về cách hoạt động của thiết bị đó: “Các tế bào với rung động rất yếu, khi được đặt trong nhiều trường rung động khác nhau, nó sẽ tự tìm thấy tần số phù hợp và bắt đầu dao động 1 cách bình thường trở lại thông qua hiện tượng cộng hưởng”. Kết quả là, RCO của Lakhovsky thường được gọi là MWO – dao động đa sóng/sóng (Multiple Wave Oscillator) vì những nguyên nhân này. MWO sử dụng cuộn Tesla và anten đặc biệt với các vòng tròn đồng tâm tạo ra các tia lửa giữa chúng. Chi tiết về thiết bị này có thể được xem tại bằng sáng chế số #1.962.565 của Mỹ và những phiên bản nâng cấp có dạng hình ống ở trong bằng sáng chế số #2.351.055 của Mỹ. Các bài báo và bằng sáng chế của Lakhovsky có thể được tìm thấy tại: http://www.rexresearch.com/lakhov/lakhusps.htm Cuốn sách của ông, Bí mật cuộc sống (The secret of life) lần đầu được xuất bản tại Anh năm 1939. Năm 1949, 1 bản đánh giá về các công trình của Lakhovsky được xuất bản bởi Mark Clement tên là Những bước sóng trị liệu (Waves that heal). Bên cạnh những thông tin kỹ thuật này, cuộc đời của Lakhovsky là 1 bằng chứng về sự đàn áp và được tóm tắt trong tài liệu sau đây bởi Chris Bird:

"Người đầu tiên tôi đề cập đến hôm nay là 1 người Pháp gốc Nga, Georges Lakhovsky. Tôi vừa mới biết hôm qua rằng Lakhovsky dường như đã từng hợp tác, hoặc biết Nikola Tesla. Trước đó tôi đã không biết điều này, và từ góc nhìn lịch sử của y khoa năng lượng, đây là 1 điều thú vị. Dù sao đi nữa, Georges Lakhovsky đã bắt đầu thí nghiệm với cái mà anh ta gọi là “dao động đa sóng”. (Tại thư viện quốc hội có khoảng 10 cuốn sách được viết bởi Lakhovsky, bằng tiếng Pháp).

Dao động đa sóng (MWO) mở ra quang phổ rộng của các tần số điện từ. Lý thuyết được đề ra bởi Lakhovsky cho rằng mỗi tế bào trong cơ thể của các cơ quan con người, động vật, thực vật là 1 thiết bị nhận sóng radio tí hon và nó hoạt động ở 1 tần số đặc biệt siêu thấp. Mỗi tế bào, lớn hơn là các mô, lớn hơn nữa là sinh học, tất cả đều là điện. Dựa trên lý thuyết đó, ông chỉ ra rằng các bệnh lý không phải là các vấn đề thuộc về sinh học, những đó là các vấn đề về điện. Ông giả thuyết rằng khi tắm các tế bào bằng các tần số điện khác nhau được tạo ra từ thiết bị dao động đa sóng, mỗi tế bào có khả năng và sẽ chọn tần số phù hợp nhất để trở về trạng thái cân bằng hoàn hảo."

"VÌ vậy ông đã bắt đầu thí nghiệm, không phải trên người hay động vật, mà là trên hoa phong lữ. Đây là những bông hoa bị ung thư – vâng thực vật cũng có thể bị ung thư. Và thật bất ngờ, những bông hoa phong lữ này đã được chữa trị khỏi bệnh ung thư; chúng rụng xuống bởi vì đó là phần bên ngoài trong trường hợp hoa phong lữ. Hoa phong lữ làm rụng các phần mô bị bệnh khi được tiếp xúc với MWO. Lakhovsky sau đó đã thử nghiệm trên động vật, con người và công trình của ông được sử dụng su đó bởi 6-7 nước khác, bao gồm Ý, Thụy Điển, Brazil... Cuối cùng, bởi vì ông đã bị đưa vào danh sách “truy nã” của Phát Xít, ông đã phải trốn khỏi Pháp và đến New York trong suốt thời kỳ chiến tranh, và ông làm việc với bác sĩ trị tiết niệu. Những ghi chép về cách điều trị các căn bệnh nguy hiểm của ông, cùng với thiết bị “trị liệu năng lượng” thật đáng kinh ngạc. Nhưng tất cả phải làm 1 cách âm thầm bí mật bởi vì Y học dòng chính không thích thiết bị này, và họ đã dùng quyền lực của mình, kết hợp với FDA (Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa kỳ) và AMA (Hiệp hội y tế Mỹ) cũng như các tổ chức kiểm soát khác, quyết tâm chôn vùi MWO vào quên lãng."

Thiết bị của Lakhovsky có hiệu quả rất tốt. Tôi không dám nói là 100% bởi vì tôi tin rằng chưa có thiết bị nào đạt được thế, nhưng chiếc máy này đã được gần như thế. Georges Lakhovsky đã chết vào năm 1944 hoặc 1945.



Vào năm 1934, Trường ĐH Nam California tổ chức Hội đồng nghiên cứu trị liệu đặc biệt để nghiên cứu về 16 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối từ Bệnh viện Pasadena County về việc họ có thể được chữa trị bởi công nghệ mitogenic impulse-wave (sóng xung lực phân bào) được phát triển bởi Royal Raymond Rife hay không. Sau 4 tháng, Hội đồng nghiên cứu trị liệu báo cáo rằng 16 bệnh nhân ung thư giai đoạn cuối đã được chữa khỏi hoàn toàn.

Thiết bị ống hơi điện áp cao của Rife đã được thiết kế cùng với kính hiển vi độc đáo của ông, có thể giúp quan sát các tác động trên vi khuẩn và vi sinh vật, cho thấy rằng các tần số cộng hưởng nhất định sẽ có thể hủy diệt chúng. Vào năm 1938, Rife đã công bố chính thức về điều này. Trong bài báo gồm 2 phần được viết bởi Newall Jones của tờ San Diego Evening Tribune, Rife nói: “Chúng tôi không khẳng định là lúc này chúng tôi có thể chữa hoàn toàn bệnh ung thư, hay bất cứ căn bệnh nào khác. Nhưng chúng tôi có thể nói rằng các sóng, hay các tia này, mà mọi người hay gọi là các tần số có thể tác động đến các cơ quan bị bệnh, và giết chúng nếu như chúng ta điều chỉnh tần số cho phù hợp với từng cơ quan. Điều này áp dụng cho các cơ quan cả trong tình trạng tự do hay là đối với các mô đang còn sống”.

“Ông đã được hỗ trợ - vào năm 1930 – bởi nhiều người như Kendall, giáo sư khoa bệnh lý học của đại học Northwestern và Millbank Johnson, M.D, cùng với nhiều người khác nữa trong giới y học, khi ông bắt đầu chữa trị cho mọi người với thiết bị “phát sóng” mới”... Đây là những gì được viết về kỹ thuật của Rife trên tờ Tạp chí Hiệp hội y tế California (Journal for the Medical Society of California) và các tờ tạp chí khác. Sau khi các bài báo khoa học về thiết bị của Rife xuất hiện, ông đã bị Morris Fishbein của Hiệp hội Y tế Hoa kỳ chú ý, rồi tiếp theo đó mọi thứ diễn biến rất nhanh. Rife đã bị truy tố hình sự vì việc đã phát minh ra 1 phương pháp chữa trị “nhảm nhí”. Tòa án đã xem xét về trường hợp của Rife trong cả 1 thời gian dài.

Năm 1953, Rife đã xuất bản các tài liệu về ung thư của ông dưới dạng 1 cuốn sách, Lịch sử phát triển cách chữa trị thành công bệnh ung thư và các loại virus, nấm khác (History of the Development of a Successful Treatment for Cancer and Other Virus, Bacteria and Fungi). Một biến cố xảy ra năm 1958, khi Sở Y tế Công cộng bang California quyết định kiểm tra thiết bị chữa trị bằng tần số của Rife. Phòng thí nghiệm Palo Alto, Kalbfeld, UCLA và San Diego Testing Lab đã cùng hợp tác để kiểm tra. “Tất cả các báo cáo đều cho thầy chúng an toàn để sử dụng. Mặc dù vậy, Hiệp hội Y tế Hoa kỳ, dưới quyền điều hành của Malcolm Merrill, giám đốc Sở Y tế Công cộng, đã tuyên bố rằng nó nguy hiểm, không an toàn và cấm nó lưu hành trên thị trường.

Năm 1961, sau cuộc kiểm định với các bác sĩ ở Hiệp hội Y tế Hoa kỳ với cương vị là người đại diện, John F.Crane, chủ nhân mới của Học viện Rife Virus Microscope, đã bị bỏ tù 3 năm, có vẻ như là do sử dụng phương pháp trị liệu tần số để chữa trị, mặc dù không có bằng chứng kết tội nào được đưa ra. Năm 1965, ông đã cố gắng để xin được sự chấp thuận từ Ủy ban Y tế Công cộng California để được sử dụng thiết bị chữa trị tần số. “Ngày 17/10/1965, Sở Y tế Công cộng trả lời rằng Crane đã không đưa ra bằng chứng cho thấy thiết bị này an toàn hay có hiệu quả khi sử dụng”.

Từ năm 1968 đến 1983, bác sĩ Livingston-Wheeler đã chữa trị thành công cho khoảng 10000 bệnh nhân với thiết bị Tần số của Rife, tại ĐH Nam California, với xác suất lên đến 80%. Năm 1972, bác sĩ Livingstone Wheeler đã xuất bản cuốn sách Ung thư: 1 giải pháp đột phá mới (Cancer: A New Breakthrough) và bà đã “lên án Hiệp hội ung thư quốc gia sử dụng sai trái số tiền lên đến 500 triệu USD trong 13 năm, nhận đút lót, vô trách nhiệm, và dùng gần 100.000 bệnh nhân ung thư như là chuột thí nghiệm cho các chương trình 'hóa-xạ-trị và phẫu thuật' cho 1 mục đích khác”. Cuốn sách cuối cùng của bà, Chinh phục bệnh ung thư (The conquest of cancer), được xuất bản năm 1984. Trong cuốn này, tác giả đã hoan nghênh việc các cơ quan y tế Châu Âu xác nhận tính hiệu quả khám phá của Rife, nhưng đồng thời phê phán tình trạng thiết bị không được chấp nhận tại Mỹ.

Tất cả những nhà khoa học này, từ năm 1958, đã thực hiện những cuộc nghiên cứu cách điều trị ung thư bằng miễn dịch và sinh học trong hàng năm trời. Và đến tận bây giờ giới y khoa chính thống Mỹ mới bắt đầu theo kịp. Bởi vì các hành động đàn áp tàn bạo của Tổ chức ung thư Hoa Kỳ, Hiệp hội Y tế Hoa Kỳ, Cục Quản lý thực phẩm và dược phẩm, tất cả chúng ta đã không thể nhận được lợi ích từ những nghiên cứu của châu Âu.

Những công trình này đã bị bỏ qua bởi vì những cá nhân có quyền lực được chống lưng bởi các nhà tài trợ giàu có, đã đàn áp tất cả những cuộc nghiên cứu và thành tựu mà không đem lại hoặc đe dọa lợi ích của họ. (Livingstone-Wheeler, Chinh phục bệnh ung thư, 1984)

Rife qua đời năm 1971, chủ yếu vì ông buồn rầu khi phát minh đột phá của minh không được chấp nhận.

Máy liệu pháp chữa trị điện từ của Antoine Priore đã hoạt động hoàn hảo từ những năm 60-70. Vào khoảng thời gian đó, 1 nhóm các nhà khoa học hàng đầu của Pháp đã chứng minh: “có kết quả thuyên giảm hoàn toàn các khối u và các bệnh truyền nhiễm trên hàng trăm động vật được thí nghiệm trong phòng nghiên cứu... trong một dự án nghiên cứu được tài trợ bởi chính phủ Pháp. Phương pháp được áp dụng là 1 sự kết hợp phức tạp giữa nhiều tín hiệu EM trong việc xoay tia Plasma, và điều chỉnh tia đầu ra dựa trên các sóng từ trường rất mạnh tiếp xúc với cơ thể của động vật thí nghiệm. Kết quả nhận được là sự thuyên giảm của các căn bệnh đang được chữa trị. Thêm nữa, hệ miễn dịch của động vật được hồi phục trở lại trạng thái bình thường... Giữa những năm 70s, công trình của Priore đã bị đàn áp vì sự thù địch của cộng đồng bác sĩ ung thư, sự thay đổi chính phủ Pháp, bị mất tài trợ, và các bác sĩ lẫn các nhà khoa học sinh vật học đều không công nhận kết quả chữa trị của phương pháp này. Điều này làm chúng ta nhớ cuốn sách của Thomas Kuhn (Cấu trúc các cuộc cách mạng khoa học: The structure of scientific revolutions), người đã lập luận rằng các hiện tượng căn bản của khoa học sẽ bị đánh giá là không bình thường nhiều lần cho đến khi 1 học thuyết mới ra đời có thể giải thích nó.

Chris Bird cung cấp cho chúng ta 1 góc nhìn thú vị về cuộc đời của ông:

Tôi sẽ kể cho các bạn nghe về 1 con người – 1 thiên tài tự học, Antoine Priore, ông bắt đầu làm việc vào năm 1944 – 1945, ngay sau thế chiến, để phát triển 1 thiết bị điện từ có thể chữa trị bệnh ung thư. Ông được hỗ trợ bởi những người dũng cảm, bao gồm cả nhà nghiên cứu miễn dịch nổi tiếng thế giới Raymond Pautrizel của đại học Bordeaux II, người đã thực hiện các nghiên cứu liên quan đến động vật.

Khi bác sĩ Pautrizel xuất hiện, mọi người bàn tán sôi nổi về các cách chữa trị ung thư, ông đã quyết định nghiên cứu theo 1 hướng khác và bắt đầu sử dụng cỗ máy để điều trị theo cách riêng của mình, chữa những căn bệnh còn đang ngủ yên trong cơ thể của động vật. Các căn bệnh còn đang ngủ là chủ đề chính của bác sĩ Pautrizel bởi vì nó chính là tai họa cho mọi người vùng nhiệt đới, và có thể bởi vì ông được sinh ra và lớn lên tại Guadeloupe ở Carribbean, nên ông rất có hứng thú với các y khoa nhiệt đới. Khi ông tiêm vào các con thỏ bệnh Trypansome, bệnh này gây ra trạng thái buồn ngủ, vi khuẩn này sẽ tự nhân lên trong cơ thể con thỏ cho đến khi hàng tỷ vi khuẩn di chuyển trong các mạch máu, và các con thỏ chắc chắn bị chết trong vòng 72 giờ. Nhưng khi được tiếp xúc bởi thiết bị của Priore, những con thỏ này vẫn có thể sống. Và cơ thể chúng vẫn còn những con vi khuẩn này – vi khuẩn vẫn còn khỏe mạnh đến nỗi nếu trích xuất chúng ra và tiêm vào 1 con thỏ khác thì chắc chắn chúng sẽ bị chết.

Điều này cho thấy rằng chiếc máy đã điện từ hóa hệ miễn dịch theo cách nào đó khiến cho con thỏ có khả năng chống lại căn bệnh chết người có thể dẫn đến tử vong trong 72 giờ.

Nếu không nhờ sự dũng cảm của tiến sĩ Robert Courrier, là Bí thư Viện hàn lâm khoa học Pháp, thì những tài liệu khoa học, thành quả của 20 năm nghiên cứu có lẽ đã không bao giờ được xuất bản. 20 năm hay hơn sau đó, dù ông bị phản đối dữ dội, tiến sĩ Courrier đã tự công bố các tài liệu cho công chúng trong tạp chí Comptes Rendues của Viện hàm lâm khoa học Pháp. Tài liệu gồm 28 trang. Ngay cả vậy, điều này cũng không thể bảo vệ tiến sĩ Pautrizel khỏi việc gần như bị sa thải khỏi Đại học Bordeaux II, nơi ông đã chữa trị thành công cho bệnh nhân bằng thiết bị Priore.

Khi ông viết 1 bản tài liệu và gửi nó đến cho Viện hàn lâm y khoa, nó đã bị từ chối và không có lời giải thích. Pautrizel sau đó đã viết 1 bức thư dài hơn nữa, và công bố công khai, gửi đến văn phòng của Viện hàn lâm y khoa Pháp để tìm hiểu tại sao tài liệu của ông đã bị từ chối và ai là người có trách nhiệm đã từ chối nó, để ông có thể hỏi xem họ cần thêm thông tin gì. 3.5 năm sau ông vẫn không nhận được thư hồi đáp.

Vì vậy ông đã quyết định không dùng các kênh khoa học thông thường mà kể toàn bộ câu truyện của mình cho 1 nhà báo, người đã viết ra 1 cuốn sách nổi tiếng tên là The Dossier Priore, a Second Affaire Pastuer? Bởi vì nó đã không được dịch sang tiếng Anh ,cho nên các nước Anh ngữ hầu như chưa biết đến nó. Nhưng tôi có 1 tài liệu 50 trang tóm tắt về nó.

Chúng ta đã thảo luận về trường hợp của 4 nhà nghiên cứu dũng cảm. Trong những người này, có 3 người đã không được học về Y khoa chính thức – Priore, Naessens và Rife – nhưng dù thế, họ vẫn tìm ra được những công cụ y khoa tuyệt vời trong lĩnh vực chữa trị bằng năng lượng theo như tôi được biết. 2 người trong số họ bị đem ra xét xử. 1 người suýt bị sa thải khỏi vị trí của mình. Những điều này đang diễn ra và không hề được ghi chép lại trong lịch sử y khoa nhưng tất cả những điều này là những chủ đề thú vị cho những nghiên cứu trong tương lai.

Một bác sĩ tiên phong vào năm 1960, bác sĩ Becker rất nổi tiếng với cuốn sách của ông Điện cơ thể (The body electric), là cuốn tự truyện về các kinh nghiệm trong cuộc đời của ông với điện từ sinh học. Ông không chỉ tìm ra những đường kinh mạch của cơ thể (giống như Trung Hoa) là những nơi làm giảm điện từ trường, mà ông còn khám phá ra các ảnh hưởng của hiện tượng điện sinh học trong cơ thể, chẳng hạn như là sự tái tạo các chi bằng kích thích điện ở động vật có vú. Ông cũng nghiên cứu về khả năng phát triển xương bằng kích thích điện cùng với bác sĩ Andrew Bassett, người đã cùng với bác sĩ Arthur Pilla, phát triển 1 máy PEMF rất hiệu quả để chữa trị xương bị gãy, hiện đã được chấp thuận bởi FDA với khả năng thành công trên 80%. Những tín hiệu PEMF tương tự gần đây đã được sử dụng để ngăn chặn chứng loãng xương, ngay cả với những bệnh nhân đã bị cắt bỏ buồng trứng.

Một bác sĩ và cũng là nhà phát minh hiện đại, tiến sĩ Abraham Liboff là người khám phá ra điện trường và địa từ ion cyclotron cộng hưởng, đã có những giải thích thuyết phục hơn về tương tác cộng hưởng của các từ trường tĩnh với các trường điện AC nội sinh trong hệ thống sinh học. Hiện đang giảng dạy trong Khoa Vật lý của Đại học Oakland, ông đã giới thiệu những nguyên tắc vật lý quan trọng của điện từ sinh học. “Phương pháp và thiết bị để điều trị ung thư” (US #5,211,622) điều chỉnh các từ trường chồng lên các vùng từ trường tĩnh, để duy trì hiệu ứng kết hợp tần số cộng hưởng cyclotron để các mô ung thư chứa các ion được chọn trước có thể được chữa trị để làm giảm thiểu tốc độ mở rộng của các tế bào ung thư. Nó cũng có thể được kết hợp với hóa trị liệu để tăng hiệu quả. Dù sao đi nữa, nó được ghi trong bằng sáng chế là “phương pháp chữa trị sẽ đem lại hiệu quả trong vòng 100 ngày”.

Sự phát ra các biophoton được kích thích 

Năm 1976, trong khi thực hiện các nghiên cứu cho luận án tiến sĩ của mình, Bernath Ruth đã khám phá rằng các mô sống phát ra photon -- tuy rất yếu, nhưng vĩnh cửu. Sau đó, một nhóm nghiên cứu gồm Ruth và Fritz Albert Popp đã được chứng minh bằng thí nghiệm rằng các biophoton đưa ra nhiều tính chất liên kết nhau giống nhau tia laser và không chỉ đơn thuần là sự tự phát quang hóa học hỗn loạn. Một ví dụ đó là dưới ánh sáng biophoton, chúng ta có thể nhìn xuyên qua các mô một cách rất dễ. Đây là 1 hiện tượng thú vị, trùng hợp với “các ống dẫn sáng” trong các mô thực vật, tự nhiên đã đảm bảo rằng các tế bào chất của tế bào khó có thể làm mỏng đi độ lớn của cường độ biophoton. Các dữ liệu thí nghiệm của cát biển ướt và tế bào đậu nành 550 nanomet từ quang phổ Guilford, so sánh với các biophoton xuất ra từ cây dưa chuột được đưa qua cùng loại cát và đậu nành, cho thấy giá trị thấp nhất (hằng số 0.2/mm E/D) khi các biophoton đi qua 1 nhóm tế bào đậu nành dày 5cm. 1 giả thuyết sinh lý đề xuất rằng sự giao tiếp giữa các tế bào hữu cơ cách xa nhau ngụ ý về sự truyền tải thông tin.

Số lượng tổng cộng các biophoton xuất ra bởi các tế bào bình thường giảm đi khi tiếp xúc với ánh sáng trắng, không phải giảm theo hàm mũ mà giảm theo hàm “hyperbolic relaxation” về mật độ photon sau khi tiếp xúc, kéo dài đến 1 giờ sau đó. 

Sự phát ra các tia sáng biophoton bởi những tế bào ung thư khi tiếp xúc với ánh sáng trắng so với sự suy giảm cấp độ phát xạ bởi các tế bào khỏe mạnh khi bị chiếu xạ bởi ánh sáng trắng, cho thấy 1 sự khác biệt rõ ràng (hình 1). Đường cong của tế bào HTC, đại diện cho các tế bào ác tính cho thấy sự tăng theo cấp số mũ các hoạt động với sự tăng mật độ của các tế bào tuyến tính. Các tế bào ác tính yếu (tế bào H35) cho thấy 1 sự tăng nhẹ, trong khi tế bào thường (Hepatoczytes) lại giảm tuyến tính cùng với sự tăng mật độ tế bào khi chúng chứa năng lượng ánh sáng. Có người đã đưa ra học thuyết sự trao đổi giữa các tế bào có thể có liên quan đến tốc độ của phát xạ biophoton so với mật độ với kích thích phân bào hay sự tăng nhanh. Thông thường, các tổ chức tế bào sẽ giảm theo cấp số nhân khi đạt tình trạng quá tải. Thay vào đó, các tế bào ung thư thì không có  khái niệm giới hạn, nhưng các bằng chứng cho thấy 1 xu hướng, như trong hình 1, là 1 phản hồi tích cực nếu như sự tương quan có tồn tại. Sự điều chỉnh khối u thông qua việc phát xạ biophoton thông thường tuân theo sự ức chế phi tuyến (tỉ lệ bình phương số lượng tế bào), đã được xác nhận bằng thí nghiệm, cho thấy sức chứa liên kết chồng của chế độ biophoton. Điều này cho thấy sự khả thi đối với các thiết bị Tesla theo cách thiết kế của Rife kích thích các biophoton lành mạnh.

 

Mô tả về các thiết bị PEMF điện áp cao Tesla

Có rất nhiều loại thiết bị BEM, như là máy của Priore, thiết bị của Liboff, và ngay cả thiết bị giảm đau. Cuộc điều tra này tập trung vào loại thiết bị Điện áp cao Tesla (HVT) thuộc về loại thiết bị PEMF. Cuộn Tesla chuẩn, có khe phóng điện giữa tụ điện và máy biến thế điện áp cao, thiết lập nên tiêu chuẩn cho loại thiết bị BEM điện áp cao, chúng có rất nhiều điều thú vị. Theo ý kiến của tác giả, sự thiếu hụt kiến thức về sinh lý học cho đến nay đã gây ra nhiều trở ngại, khiến cho loại thiết bị này chưa được chấp nhận rộng rãi trong lĩnh vực nghề nghiệp y khoa. Nó tạo ra xung bởi bộ phận truyền dẫn điện áp cao không liên tục, bằng cách dùng rơle, công tắc hoặc đơn giản là khe phóng điện, thỉnh thoảng với sóng vuông đặc trưng.

Ví dụ cho các thiết bị HVT PEMF là cuộn Tesla, Lakhovsky MWO, Máy tần số Rife, thiết bị Electronic Wind Faser của Học viện năng lượng tự nhiên( This e-mail address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it ) Thiết bị trị liệu Azure (US #6,217,604), Thiết bị kích thích biophotonic kết hợp rung (VIBE), Máy photon Tesla, Thiết bị cảm ứng xung từ trường Pappas (MID) (US #5,068,039 và #5,556,418) và Máy tia sáng (www.LightBeamGenerator.com)

 

 

 

 

Các giai đoạn và phương thức của hiệu ứng PEMF

Để xác định rõ các phản ứng sinh lý, cuộc điều tra này bắt đầu với 1 vài thống kê điện từ sinh học. Điện trở suất, tính dẫn điện, hằng số điện môi..... của cơ thể con người đều đã được biết. Có rất nhiều giai đoạn và cách thức để EMF và PEMF tác động đến cơ thể con người. Bắt đầu từ sự xâm nhập qua khu vực ngoại sinh, được biết như là sự tác động với sự trao đổi chất tế bào được đem ra xem xét.

Độ sâu bề mặt của HVT PEMF

Ví dụ, qua các tài liệu đã được công bố, chúng ta đã biết rằng các trường điện tự tần số cao (EMFs) có thể xuyên qua nhiều cm mô, xương và cơ bắp. Các hiệu ứng miễn dịch của hiện tượng tiếp xúc RF thường để lại kết quả là sự tăng cường hay kích thích khi hội chứng thân nhiệt cao được cảm ứng với các sóng liên tiếp, tần số cỡ gigahertz với mật độ khoảng 100 watt mỗi mét vuông. Tuy nhiên, nếu ngược lại thì tính sinh lý của hiệu ứng trên các mô ít rõ ràng hơn. Ít nhất, vẫn có thể chấp nhận được rằng HVT PEMF cũng xuyên sâu vào trong cơ thể. Các hiệu ứng của PEMF bên trong cơ thể được phân tích bên dưới.

Các hiệu ứng ion âm

Chúng ta đều biết rằng các ion âm và các dải ozone đem lại nhiều lợi ích về sức khỏe, bao gồm việc tăng cường hệ thống miễn dịch và tiêu diệt vi trùng. Bởi vì các thiết bị PEMF điện áp cao Tesla cung cấp rất nhiều ion âm và ozone, chức năng não cũng được tăng đáng kể.

Tiềm năng của các màng

1 khía cạnh quan trọng khác của các hiệu ứng sinh lý từ HVT PEMF có thể được tìm thấy nhờ phân tích tiềm năng của lớp màng (TMP). Ví dụ, chúng ta được biết rằng những tế bào bị tổn thương hay bị bệnh có TMP rất thấp, khoảng 80% thấp hơn tế bào thường. Điều này có nghĩa là sự trao đổi chất bị suy giảm trầm trọng, chi tiết hơn, sự suy yếu hoạt động bơm sodium-potassium (Na-K) và sự sản xuất ATP.

Có đề xuất cho rằng các màng tế bào có thể sửa chữa các dòng điện luân phiên bởi vì cấu trúc protein vận hành giống như máy sửa chữa trạng thái rắn. Điều này là hợp lý vì vậy có thể kết luận rằng, dựa trên các nguyên tắc sinh lý này, bất cứ tiềm năng nội sinh HV EMF nào đủ sức mạnh sẽ (về mặt lý thuyết) kích thích TMP, cơ chế trao đổi chất của tế bào bình thường, bơm Na-K, sản xuất ATP và chữa trị. Điều này có ghi trong tài liệu: “TMP là tỷ lệ hoạt động của cái bơm này và vì vậy nó cũng là tốc độ chữa trị”

“Sự tăng thêm tiềm năng của màng cũng dẫn đến sự tăng lên của sự hấp thu amino acid”. Các tế bào khỏe mạnh, theo như người từng đoạt giải Nobel – Otto Warbug, có tỷ lệ điện áp tế bào TMP từ 70-90 milivolt. Vì sự căng thẳng thường xuyên của cuộc sống hiện đại và môi trường độc hại, điện áp của tế bào có xu hướng giảm đi khi chúng ta già hoặc là khi bị bệnh. Khi điện áp giảm, tế bào mất khả năng duy trì môi trường lành mạnh cho chính nó. Nếu sự tích điện của tế bào giảm xuống 50, người đó sẽ trải qua chứng mệt mỏi kinh niên. Nếu điện áp giảm đến 15, tế bào đó sẽ bị ung thư. Tiến sĩ Warbug cũng tìm ra vào năm 1925 rằng chức năng của các tế bào ung thư hoạt động mạnh nhất khi thiếu oxy. Để tồn tại trong một môi trường thiếu oxy, tế bào ung thư sống bằng phản ứng lên men sinh-hóa học. 

Đa tương tác với EMF

Để mô tả 1 số cách phức tạp để tương tác với các trường điện tự, Hình 2 cung cấp cho chúng ta các hình ảnh (1) về sự kích thích điện với 1 cấp độ năng lượng cao hơn tiếp theo sự hấp thu của năng lượng điện từ nhìn thấy được hoặc quang phổ UV, thứ có thể thay đổi các liên kết hóa học; sự phân cực (2), nếu các cực được gắn vào 1 lớp màng, chúng có thể thay đổi độ thấm của lớp màng đó; (3) các lực trên các cực cảm ứng gây ra cơ cấu hình chuỗi hạt cho các trường lớn hơn 10 kV/m; (4) các hiệu ứng nhiệt là “kết quả có ở mọi nơi của EMFs” nhưng chúng lại độc lập với sự chi tiết của các hoạt động phân tử; (5) các quy trình khác có độ nhạy khoảng 1 phần tỷ của microwatt mỗi cm2   (10^-9 μW/cm^2). Các quá trình này bao gồm cơ học lượng tử và các quy trình cổ điển của hiện tượng siêu dẫn, hiệu ứng Hall, hiệu ứng đảo áp điện, sự tác động giữa các cực có liên kết và dao động Plasma. Quy trình #5 là “trên lý thuyết có thể là cơ chế vật lý cơ bản của bất kỳ hiệu ứng sinh lý cảm ứng EMF nào”.

Các hiệu ứng điện áp cao

Các nghiên cứu cho thấy rằng cá trường tĩnh điện điện áp cao có thể tạo ra nhiều hiệu ứng trên cơ thể con người, đa số là có lợi. Ví dụ, trường HV nằm trong khoảng 2400 kV/m (2.4 MV/m) được tìm thấy rằng có hiệu ứng có lợi trên chuột thí nghiệm khi đo các hoạt động của chúng, tốc độ hô hấp của phổi, và khả năng hình thành các kháng thể. Ngược lại, chuột bạch phải chịu đựng các trường tĩnh điện bằng cách nhốt trong lồng Faraday thì có các kết quả ngược lại. (Chú ý rằng khi ở ngoài trời, trường tĩnh điện của môi trường xung quanh được tạo ra bởi tầng điện ly đến trái đất có giá trị khoảng 100V/m và nó sẽ tăng lên khi có bão tố, sấm sét). Điều đó không chỉ ngụ ý rằng chúng có liên quan đến chức năng miễn dịch mà còn bao hàm 1 khía cạnh quan trọng khác của BEMs: sức mạnh trường điện nội sinh, sâu bên trong vài cm của xương hay cơ quan, sẽ nằm ở trong khoảng 10 mV/m đối với trường ngoại sinh 1 MV/m tại tần số 10 Hz hay ít hơn. (Lấy lỗ hổng tầng điện ly trái đất Schumann làm ví dụ, cộng hưởng tại tần số khoảng 10 Hz). Tuy nhiên, mối quan hệ điện áp nội sinh làm 1 hàm logarit giảm với tần số, vì vậy các dải tín hiệu ngoại sinh MHz cần đạt được 100 V/m để có thể tạo ra tần số 10 mV/m nội sinh. Vì vậy các tần số EMF cao hơn tương ứng với các trường nội sinh cao hơn. Để lấy một ví dụ cụ thể, khi đã áp dụng cuộn Tesla 0.12mT với xung điện 260 ms, sụn giữa trong đầu gối một bệnh nhân đã đạt lượng điện trường trình bình là 150 mV/m.  

Xung điện hoặc từ trường cũng là 1 trong những cách khác, nếu chúng ta hiểu được sức mạnh trường nội sinh là quan trọng. 1 ví dụ khác là trường điện 100 kV/m đã được chứng minh là tăng cường khả năng tổng hợp đại phân tử, chẳng hạn như là DNA hay Collagen (tạo ra mô liên kết). Vì vậy, nếu trường này bị ngắt 1 lần mỗi giây (xung 1 Hz), sự tổng hợp DNA tăng lên 20% so với lần đo trước và tổng hợp collagen tăng lên đến 100%. Sự phụ thuộc vào trường sức mạnh này đã được nhận ra.

Hiện, chỉ duy nhất 1 thiết bị PEMF hoạt động gần Graddien electroporation tối thiểu (1 kV/cm hay 100 kV/m). Đó là thiết bị Pappas Pulsed MID được báo cáo rằng tỷ lệ thành công là 89% khi giảm các cơn đau kinh niên ở xương chậu và giải thích rằng: “Electroporation là hiện tượng điện-sinh-hóa, không dùng nhiệt liên quan đến tốc độ di chuyển 2 chiều của các ion hóa học thông qua màng tế bào, hạn chế tốc độ trao đổi chất của tế bào và vì thế kiểm soát mức độ năng lượng”.

Theo đó chúng ta có thể thấy rằng các HVT PEMFs chẳng hạn như là thiết bị của Azure và những cái tương tự không thể đạt được các trường nội sinh cao để tạo ra Electroporation nhưng sẽ kích thích sự thấm qua màng thông qua hiệu ứng HF được ghi bên dưới, điều này xác nhận tính phong phú của các báo cáo chữa trị.

 


 

 

Tiến sĩ Robert Adair ghi chú rằng nếu không sử dụng các tín hiệu xung, các thiết bị RF dùng dòng điện AC (liên tục) cần vượt qua mức 10 mW/cm^2 để vượt qua độ nhiễu nội sinh trong các hệ thống sinh học.

Những lo lắng về các vấn đề an toàn của HV nội sinh đã được chỉ ra trong các bài báo khoa học. Các thí nghiệm gần đây xác nhận rằng khi tiếp xúc trong vòng 2 phút với trường điện tối đa là 100 kV/m, và xung 1 ns “không gây tác dụng xấu tức thời nào đến hệ thống tim mạch...” 

Các hiệu ứng tần số cao

Khi nghiên cứu về điện áp cao, đặc biệt là về cuộn Tesla, thật sự rất quan trọng cần phải phân tích các hiệu ứng tần số cao BEM mặc dù chúng đã được biết đến rồi. Tỉ lệ hấp thu trung bình (SAR) của cơ thể người là 1 ví dụ, nó được đo là watts/kilogram (W/kg) và phụ thuộc vào hàm tăng logarit với tần số lên đến 1 gigahertz (1 GHz) và thăng bằng tại 10 W/kg. Mật độ hấp thụ cho cơ bắp mỗi milliwatt trên cm^2 cũng thăng bằng ở mức 1 GHz. Đây là thông tin quý giá để phân tích các thiết bị HVT PEMF bời vì chúng hoạt động trong 1 dải tần số rộng, thường với 2 đỉnh cộng hưởng trong khoảng kilohertz hoặc megahertz nhưng vẫn tạo ra năng lượng có thể đo được mở rộng đến mức Gigahertz. EMFs nằm trong khoảng GHz (1.8 GHz) đã được chứng minh là tăng độ thẩm thấu của hàng rào máu - não đối với sucrose. 

Và như đã được đề cập trước, các EMFs tần số cao hơn có các trường nội sinh cao hơn tương ứng. Điều này đã được xác nhận với nhiều thí nghiệm trên tế bào ưa eozin của người trong ống nghiệm. Khi 3-5 xung và cường độ điện trường lên đến 5.3 MV/m và khoảng thời gian là 60 ns được ứng dụng vào tế bào này, các hiệu ứng nhiệt có thể bị bỏ qua bởi vì trường độ các xung siêu ngắn. "Các hiệu ứng nội-tế-bào cho phép electroporation xảy ra trong các cơ quan của tế bào và hứa hẹn các phương pháp chưa trị dựa vào apoptosis, gửi gien vào hạt nhân, hay điều chỉnh chức năng tế bào, tùy theo các điều kiện xung điện." Ghi chú cho thấy các xung với khoảng thời gian tính bằng nano-giây sẽ tương ứng với các tần số trong khoảng gigahertz bởi mối quan hệ đảo ngược lại.

Giải điều biến của năng lượng tần số radio bị biến đổi biên độ (RF) đã được đưa ra như là cơ chế giải thích cho sự phản hồi sinh học với các trường này. 1 thí nghiệm cũng đã được thực hiện để kiểm tra xem cấu trúc điện và từ trường của các tế bài sinh học có đưa ra các phản ứng phi tuyến cần thiết để đáp trả lại sự điều biến hay không:

1 khoang Q cao và sự khuếch đại với độ nhiễu rất thấp có thể được dùng để xác định các phản hồi phi tuyến cực yếu xuất hiện như là sóng hài hòa bậc 2 của hiện tượng trường RF trên mẫu thử. Các trường phi tuyến rải rác từ các tế bào sinh học có sự trao đổi chất linh động phát triển trong các lớp đơn hoặc bị gián đoạn trong dung môi có thể được phân biệt đối với các trường phi tuyến của thiết bị. Ước lượng độ nhạy của sóng theo lý thuyết và phân tích độ nhiễu hệ thống chỉ ra khả năng phát hiện được các tín hiệu sóng cực ngắn tại 1.8 GHz (sóng hài hòa bậc 2 của 900 MHz) yếu tương đương với 1 photon viba mỗi tế bào mỗi giây. Giới hạn thực tế, thiết lập bởi sự suy biến của khoang Q, là cực kỳ thấp so với nền nhiệt, nó đạt đến đỉnh điểm của tia hồng ngoại với chiều dài sóng là 17m và phát xạ 1010 photon hồng ngoại mỗi giây mỗi tế bào trong 1 dải tần số hẹp 0.5% của đỉnh điểm. Hệ thống có thể được lấy chuẩn bằng cách giới thiệu các vật liệu phi tuyến, chẳng hạn như là diode Schottky. Với năng lượng đầu vào là 160W tần số 900 MHz trên vật liệu sinh học, thiết bị này được cho rằng có thể sản xuất tín hiệu đầu ra khoảng 0.10 mV tần số 1.8 GHz nếu được đo bởi máy phân tích quang phổ và độ nhiễu -30dB. Ngưỡng thí nghiệm để phát hiện các hiện tượng tương tác phi tuyến là 1010 dưới mức tín hiệu được tạo ra bởi diode của Schottky, đây là độ nhạy mà trước đó chưa hề có để dùng trong việc đo lượng quá trình chuyển đổi năng lượng phi tuyến trong các mô sống.

Vận chuyển Electron và các gốc tự do

Có thể vấn đề toàn diện và quan trọng nhất cho các trạng thái bệnh tật chung, bao gồm cả ung thư có liên quan đến khoa học về các gốc tự do trong cơ thể người. Các gốc tự do chứa một số electron bất thường. 1 ví dụ là gốc Methyl hay là gốc Chlorine. Chúng ta được biết rằng khi các liên kết cộng hóa trị bị đứt gãy do homolytic cleavage, mỗi mảnh sẽ giữ lại một electrong của liên kết cũ. Oxy hay Chlorine là ví dụ điển hình. Khí Chlorine có sẵn ngay trong nhà của chúng ta khi có ai đó mở vòi nước ở khu vực đô thị (Mỹ), không sử dụng hệ thống lọc than đá. Bởi vì phân tử chlorine có năng lượng phân tách thấp (58 kcal/mol), các nguyên tử gốc chlorine có thể sản xuất bởi ánh sáng có bước sóng dài hoặc đun nóng đến 1 nhiệt độ nhất định. 1 khi nguyên tử gốc Chlorine xuất hiện với số lượng ít, các chuỗi phản ứng sẽ bắt đầu. Chúng có thể phản ứng liên tục với các phân tử khác để sản xuất ra các gốc tự do, khoảng 10,000 chu kỳ trước khi chấm dứt. Chất chống oxy hóa là loại phổ biến nhất, được gọi là “kẻ hủy diệt” đối với các chuỗi phản ứng gây ra bởi các gốc tự do, bởi vì chúng cung cấp thêm các electron tự do, và đó là thứ mà các gốc tìm kiếm để hoàn thành lớp vỏ bên ngoài. Có rất nhiều loại gốc tự do tồn tại trong cơ thể chúng ta và đã được kết nối với quá trình lão hóa, phần lớn có thể thấy rõ ràng ở bên ngoài thông qua lớp da nhăn nheo. Chất chống oxy hóa, cung cấp các electron tự do, được sử dụng bên ngoài để hạt chế các nếp nhăn trên da và làm chậm quá trình lão hóa bên trong và làm ngưng lại rất nhiều quá trình gây bệnh. Coenzyme Q-10 có thể hoạt động như là 1 tác nhân chuyển đổi electron hoặc là chất chống oxy hóa.

Hãy nhìn vào bài phân tích đơn giản về chuỗi vận chuyển electron được tìm trong chu kỳ Krebs, nó sản xuất ATP thông qua sự hóa thẩm thấu phosphoryl hóa (chemiosmotic phosphorylation). Điều đó có nghĩa là các electron năng lượng cao được chuyển tới coenzyme (Q) và các phân tử cytochrome, chúng là các electron vận chuyển bên trong màng, các gốc tự do có thể gây trở ngại trước khi các electron đến ty thể, vì vậy giảm năng lượng trao đổi chất. Thật sự, tiến sĩ William Koch đã tìm ra rằng “các gốc tự do không bão hòa trùng hợp của các phân tử nhẹ kích thích sự phát triển ung thư... Các gốc tự do vì vậy hình thành tại các cực khác... tiếp tục quá trình trùng hợp cung cấp năng lượng cho sự phân bào có tơ không được kiểm soát”.

Giả thuyết cho rằng các thiết bị HVT PEMF cung cấp dồi dào các electron tự do cho cơ thể con người, và cũng có các ion âm nữa, bởi vì chúng chiếm lấy các trường tĩnh duy nhất bị biến điệu với trường điện xung đa chế độ. Giống như là cơn lũ electron tự do, chuyên qua các lớp màng thẩm thấu vào các mô, các cơ bắp và có thể là xương, không chỉ ngăn chặn các chuỗi phản ứng đang xảy ra mà chúng còn thúc đẩy quá trình lên men của ATP trong chu kỳ Kreb quay lại chu kỳ hô hấp, với sự có mặt của tế bào gây khối u, ung thư. Vì vậy bất kỳ tế bào ung thư nào bị ảnh hưởng đều không thể duy trì được chu kỳ hô hấp, vì vậy bị thiếu oxy. Trong trường hợp đó, việc điều trị bằng HVT PEMF trong các khoảng thời gian ngắn nhưng thường xuyên có thể giúp các tế bào yếu phóng ra các chất thải.

Các hiệu ứng ánh sáng

Ánh sáng được phát hiện rằng có thể có hiệu ứng quang động lực lên cơ thể và có nhiều cuốn sách đã viết về các hiệu ứng chữa trị chuyên sâu sử dụng nhiều tần số khác nhau của ánh sáng có thể nhìn thấy được. Tiến sĩ John Ott đã tiến hành thí nghiệm cho thấy chuột bạch sống dưới ánh sáng huỳnh quang hồng có nguy cơ bị ung thư và 1 số triệu chứng. Tiến sĩ William Douglass kết luận: “Liệu pháp ánh sáng cần sớm được sử dụng trong việc chuẩn đoán cũng như chữa trị”. Thú vị thay, các thiết bị HVT PEMF cũng bổ sung các ống gas của Rife vào anten, được biết rằng PEMF và sự quang oxy hóa khi được kết hợp cùng nhau sẽ tạo ra “các hiệu ứng hủy diệt lên các tế bào ung thư”.

Kết luận

Nhìn chung, các thiết bị PEMF sử dụng cuộn Tesla, với HF và HV PEMF, bao gồm các bằng sáng chế Azure, máy VIBE, máy Photon Tesla, máy Light Beam Generator, dao động đa sóng của Lakhovsky (MWO), Electronic Wind Faser của học viện Chữa trị tự nhiên. Tất cả những thứ này đều bổ sung các ống gas điện áp cao kích thích sinh học cho thấy có các kết quả tốt trên cơ thể con người.

Để tham khảo thêm thông tin, tác giả bài viết này có 1 phiên bản đầy đủ hơn trong 1 cuốn sách dài 60 trang tên là: Bioelectromagnetic Healing and Raionale for Its Use, xuất bản bởi IRI.

Chuyển dịch bởi: Huỳnh Thanh Long

Bản gốc tiếng Anh (có chú thích và danh sách các tài liệu tham khảo):